• Chuyên mục
    • Gia sư tận nhà
    • Gia sư trực tuyến
    • Gia sư các tỉnh thành
      • Gia Sư Tuyên Quang
        • Gia sư Hà Giang
      • Gia Sư Cao Bằng
      • Gia sư Thái Nguyên
        • Gia Sư Bắc Cạn
      • Gia Sư Lai Châu
      • Gia Sư Lào Cai
        • Gia Sư Yên Bái
      • Gia Sư Lạng Sơn
      • Gia Sư Điện Biên
      • Gia sư Phú Thọ
        • Gia sư Vĩnh Phúc
        • Gia Sư Hòa Bình
      • Gia sư Sơn La
      • Gia sư Bắc Ninh
        • Gia Sư Bắc Giang
      • Gia sư Quảng Ninh
      • Gia sư Hà Nội
      • Gia sư Hải Phòng
        • Gia Sư Hải Dương
      • Gia sư Hưng Yên
        • Gia sư Thái Bình
      • Gia sư Ninh Bình
        • Gia sư Nam Định
        • Top 4 Trung Tâm Gia Sư Tốt Nhất*0868.710.722 – Phủ Lý Hà Nam
      • Top 4 Trung Gia Sư Tốt Nhất Tại Thanh Hóa
      • Gia Sư Nghệ An
      • Gia Sư Hà Tĩnh
      • Gia Sư Quảng Trị
        • Gia Sư Quảng Bình
      • Gia Sư Thành Phố Huế
      • Gia sư Đà Nẵng
        • Gia Sư Quảng Nam
      • Gia sư Quảng Ngãi
        • Gia Sư Kon Tum
      • Gia sư Gia Lai
        • Gia sư Bình Định
      • Gia Sư Đắk Lắk
        • Gia Sư Phú Yên
      • Gia Sư Khánh Hòa
        • Gia Sư Ninh Thuận
      • Gia sư Đồng Nai
        • Gia Sư Bình Phước
      • Gia sư Lâm Đồng
        • Gia Sư Đắk Nông
        • Gia sư Bình Thuận
      • Gia sư Tây Ninh
        • Gia sư Long An
      • Gia Sư Hồ Chí Minh
        • Gia sư Bình Dương
        • Top 4 Trung Tâm Gia Sư Tốt Nhất Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
      • Gia sư Cần Thơ
        • Gia Sư Hậu Giang
        • Gia sư Sóc Trăng
      • Gia sư Đồng Tháp
        • Gia Sư Tiền Giang
      • Gia Sư An Giang
        • Gia Sư Kiên Giang
      • Gia sư Vĩnh Long
        • Gia sư Bến Tre
        • Gia Sư Trà Vinh
      • Gia Sư Cà Mau
        • Gia Sư Bạc Liêu
    • Gia sư các môn học
      • Gia sư kiểm tra bài
      • Gia sư môn tiểu học
      • Gia sư môn Sinh học
      • Gia sư môn Tiếng Anh
      • Gia sư Tiếng Trung
      • Gia sư Tiếng Pháp
      • Gia sư môn Ngữ văn
      • Gia sư Tiếng Đức
      • Gia sư môn Hóa học
      • Gia sư Tiếng Hàn
      • Gia sư Tiếng Anh
      • Gia sư môn Vật Lý
      • Gia sư Tiếng Nhật
      • Gia sư môn Tin học
      • Gia sư môn Toán
    • Gia sư các lớp học
      • Tiền Lớp 1
      • Lớp 1
      • Lớp 2
      • Lớp 3
      • Lớp 4
      • Lớp 5
      • Lớp 6
      • Lớp 7
      • Lớp 8
      • Lớp 9
      • Lớp 10
      • Lớp 11
      • Lớp 12
      • Người Đi Lam
  • Học viên
    • Bảng giá thuê gia sư
    • Hướng dẫn thanh toán phí
    • Phụ Huynh Cần Biết
    • Kinh nghiệm học tập
    • Kỹ năng sống
    • Đề thi
    • Tài liệu
  • Gia sư
    • Đăng nhập tài khoản gia sư
    • Tìm lớp dạy kèm
    • Câu hỏi thường gặp
    • Điều khoản gia sư
    • Hướng dẫn thanh toán phí
    • Gia sư cần biết
  • TỔNG HỢP
    • Đề thi
    • Sức khỏe chủ động
    • LUẬT HẤP DẪN
    • SỨC MẠNH TIỀM THỨC
    • Tư duy giàu có
    • Quán chiêu văn
    • Nhật kí mùa yêu 29
    • HÀ TĨNH
    • Tin tức sự kiện
  • Bài Viết
  • Liên hệ
  • 64 TỈNH
    • VŨNG TÀU
    • GIA SƯ BIÊN HOÀ
    • GIA SƯ BẮC GIANG
    • GIA SƯ BẮC NINH
    • GIA SƯ BÌNH DƯƠNG
    • GIA SƯ ĐÀ LẠT
    • GIA SƯ ĐÀ NẴNG
    • GIA SƯ ĐÀ NẴNG
    • GIA SƯ HẠ LONG
    • GIA SƯ HÀ NỘI
    • GIA SƯ HẢI DƯƠNG
    • GIA SƯ HẢI PHÒNG
    • GIA SƯ HỒ CHÍ MINH
    • GIA SƯ NAM ĐỊNH
    • GIA SƯ NHA TRANG
    • GIA SƯ NINH BÌNH
    • GIA SƯ PLEIKU
    • GIA SƯ THÁI BÌNH
    • GIA SƯ THÁI NGUYÊN
    • GIA SƯ THANH HÓA
    • GIA SƯ THÀNH PHỐ VINH
    • GIA SƯ TRÀ VINH
    • GIA SƯ VĨNH PHÚC
    • GIA SƯ YÊN BÁI
    • GIA SƯ HÀ TĨNH
    • GIA SƯ HUẾ
    • GIA SƯ PHAN THIẾT
    • GIA SƯ PHÚ THỌ
    • GIA SƯ TP ĐÔNG HÀ – QUẢNG TRỊ
    • GIA SƯ YÊN BÁI
    • HÀ NAM
  • 34 TỈNH
    • ĐIỆN BIÊN
    • TUYÊN QUANG
    • CAO BẰNG
    • SƠN LA
    • LÀO CAI
    • LẠNG SƠN
    • LAI CHÂU
    • THÁI NGUYÊN
    • NINH BÌNH
    • QUẢNG NINH
    • PHÚ THỌ
    • HƯNG YÊN
    • HẢI PHÒNG
    • HƯNG YÊN
    • BẮC NINH
    • HÀ NỘI
    • THANH HOÁ
    • NGHỆ AN
    • QUẢNG TRỊ
    • HÀ TĨNH
    • TP HUẾ
    • QUẢNG NGÃI
    • ĐÀ NẴNG
    • GIA LAI
    • KON TUM
    • ĐĂK LĂK
    • KHÁNH HOÀ
    • CÀ MAU
    • CẦN THƠ
    • VŨNG TÀU
    • ĐỒNG NAI
    • TÂY NINH
    • ĐỒNG THÁP
    • HỒ CHÍ MINH
    • KIÊN GIANG
    • LÂM ĐỒNG
    • QUẢNG NGÃI
    • VĨNH LONG
0868.710.722 – Gia Sư Quốc Khánh
  • Chuyên mục
    • Gia sư tận nhà
    • Gia sư trực tuyến
    • Gia sư các tỉnh thành
      • Gia Sư Tuyên Quang
        • Gia sư Hà Giang
      • Gia Sư Cao Bằng
      • Gia sư Thái Nguyên
        • Gia Sư Bắc Cạn
      • Gia Sư Lai Châu
      • Gia Sư Lào Cai
        • Gia Sư Yên Bái
      • Gia Sư Lạng Sơn
      • Gia Sư Điện Biên
      • Gia sư Phú Thọ
        • Gia sư Vĩnh Phúc
        • Gia Sư Hòa Bình
      • Gia sư Sơn La
      • Gia sư Bắc Ninh
        • Gia Sư Bắc Giang
      • Gia sư Quảng Ninh
      • Gia sư Hà Nội
      • Gia sư Hải Phòng
        • Gia Sư Hải Dương
      • Gia sư Hưng Yên
        • Gia sư Thái Bình
      • Gia sư Ninh Bình
        • Gia sư Nam Định
        • Top 4 Trung Tâm Gia Sư Tốt Nhất*0868.710.722 – Phủ Lý Hà Nam
      • Top 4 Trung Gia Sư Tốt Nhất Tại Thanh Hóa
      • Gia Sư Nghệ An
      • Gia Sư Hà Tĩnh
      • Gia Sư Quảng Trị
        • Gia Sư Quảng Bình
      • Gia Sư Thành Phố Huế
      • Gia sư Đà Nẵng
        • Gia Sư Quảng Nam
      • Gia sư Quảng Ngãi
        • Gia Sư Kon Tum
      • Gia sư Gia Lai
        • Gia sư Bình Định
      • Gia Sư Đắk Lắk
        • Gia Sư Phú Yên
      • Gia Sư Khánh Hòa
        • Gia Sư Ninh Thuận
      • Gia sư Đồng Nai
        • Gia Sư Bình Phước
      • Gia sư Lâm Đồng
        • Gia Sư Đắk Nông
        • Gia sư Bình Thuận
      • Gia sư Tây Ninh
        • Gia sư Long An
      • Gia Sư Hồ Chí Minh
        • Gia sư Bình Dương
        • Top 4 Trung Tâm Gia Sư Tốt Nhất Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
      • Gia sư Cần Thơ
        • Gia Sư Hậu Giang
        • Gia sư Sóc Trăng
      • Gia sư Đồng Tháp
        • Gia Sư Tiền Giang
      • Gia Sư An Giang
        • Gia Sư Kiên Giang
      • Gia sư Vĩnh Long
        • Gia sư Bến Tre
        • Gia Sư Trà Vinh
      • Gia Sư Cà Mau
        • Gia Sư Bạc Liêu
    • Gia sư các môn học
      • Gia sư kiểm tra bài
      • Gia sư môn tiểu học
      • Gia sư môn Sinh học
      • Gia sư môn Tiếng Anh
      • Gia sư Tiếng Trung
      • Gia sư Tiếng Pháp
      • Gia sư môn Ngữ văn
      • Gia sư Tiếng Đức
      • Gia sư môn Hóa học
      • Gia sư Tiếng Hàn
      • Gia sư Tiếng Anh
      • Gia sư môn Vật Lý
      • Gia sư Tiếng Nhật
      • Gia sư môn Tin học
      • Gia sư môn Toán
    • Gia sư các lớp học
      • Tiền Lớp 1
      • Lớp 1
      • Lớp 2
      • Lớp 3
      • Lớp 4
      • Lớp 5
      • Lớp 6
      • Lớp 7
      • Lớp 8
      • Lớp 9
      • Lớp 10
      • Lớp 11
      • Lớp 12
      • Người Đi Lam
  • Học viên
    • Bảng giá thuê gia sư
    • Hướng dẫn thanh toán phí
    • Phụ Huynh Cần Biết
    • Kinh nghiệm học tập
    • Kỹ năng sống
    • Đề thi
    • Tài liệu
  • Gia sư
    • Đăng nhập tài khoản gia sư
    • Tìm lớp dạy kèm
    • Câu hỏi thường gặp
    • Điều khoản gia sư
    • Hướng dẫn thanh toán phí
    • Gia sư cần biết
  • TỔNG HỢP
    • Đề thi
    • Sức khỏe chủ động
    • LUẬT HẤP DẪN
    • SỨC MẠNH TIỀM THỨC
    • Tư duy giàu có
    • Quán chiêu văn
    • Nhật kí mùa yêu 29
    • HÀ TĨNH
    • Tin tức sự kiện
  • Bài Viết
  • Liên hệ
  • 64 TỈNH
    • VŨNG TÀU
    • GIA SƯ BIÊN HOÀ
    • GIA SƯ BẮC GIANG
    • GIA SƯ BẮC NINH
    • GIA SƯ BÌNH DƯƠNG
    • GIA SƯ ĐÀ LẠT
    • GIA SƯ ĐÀ NẴNG
    • GIA SƯ ĐÀ NẴNG
    • GIA SƯ HẠ LONG
    • GIA SƯ HÀ NỘI
    • GIA SƯ HẢI DƯƠNG
    • GIA SƯ HẢI PHÒNG
    • GIA SƯ HỒ CHÍ MINH
    • GIA SƯ NAM ĐỊNH
    • GIA SƯ NHA TRANG
    • GIA SƯ NINH BÌNH
    • GIA SƯ PLEIKU
    • GIA SƯ THÁI BÌNH
    • GIA SƯ THÁI NGUYÊN
    • GIA SƯ THANH HÓA
    • GIA SƯ THÀNH PHỐ VINH
    • GIA SƯ TRÀ VINH
    • GIA SƯ VĨNH PHÚC
    • GIA SƯ YÊN BÁI
    • GIA SƯ HÀ TĨNH
    • GIA SƯ HUẾ
    • GIA SƯ PHAN THIẾT
    • GIA SƯ PHÚ THỌ
    • GIA SƯ TP ĐÔNG HÀ – QUẢNG TRỊ
    • GIA SƯ YÊN BÁI
    • HÀ NAM
  • 34 TỈNH
    • ĐIỆN BIÊN
    • TUYÊN QUANG
    • CAO BẰNG
    • SƠN LA
    • LÀO CAI
    • LẠNG SƠN
    • LAI CHÂU
    • THÁI NGUYÊN
    • NINH BÌNH
    • QUẢNG NINH
    • PHÚ THỌ
    • HƯNG YÊN
    • HẢI PHÒNG
    • HƯNG YÊN
    • BẮC NINH
    • HÀ NỘI
    • THANH HOÁ
    • NGHỆ AN
    • QUẢNG TRỊ
    • HÀ TĨNH
    • TP HUẾ
    • QUẢNG NGÃI
    • ĐÀ NẴNG
    • GIA LAI
    • KON TUM
    • ĐĂK LĂK
    • KHÁNH HOÀ
    • CÀ MAU
    • CẦN THƠ
    • VŨNG TÀU
    • ĐỒNG NAI
    • TÂY NINH
    • ĐỒNG THÁP
    • HỒ CHÍ MINH
    • KIÊN GIANG
    • LÂM ĐỒNG
    • QUẢNG NGÃI
    • VĨNH LONG
» Đề thi » Hệ Thống Đề Thi Giữa Học Kì 2 và Cuối Kì 2 Môn Ngữ Văn Lớp 8

Hệ Thống Đề Thi Giữa Học Kì 2 và Cuối Kì 2 Môn Ngữ Văn Lớp 8

20-04-2026 | 4 Lượt xem

 

ĐỀ THI GIỮA KÌ II VÀ CUỐI KÌ II, VĂN 8

Đề số 1:

  1. Phần đọc – hiểu:

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

    HOA VÀ ĐẤT

(1)Khi con ra đời
Cha gọi con là nụ hoa
Cha gọi con là ngọn gió
Cha gọi con là mặt trời
Cha gọi con bằng tất cả
Những từ ngữ đẹp nhất trên đời.

………………………………

(2)Khi ấy

phía sau vừng sáng của con là bóng mẹ

rất âm thầm

Mẹ không làm thơ không viết văn

nên chỉ gọi con bằng con của mẹ.

Đôi mắt mẹ thâm quầng thiếu ngủ

bao nhiêu đêm con khó nhọc trong người

 

mẹ gầy đi, mẹ nhỏ nhoi

đi đứng, vào ra như chiếc bóng

để dành cho cha niềm hạnh phúc

cho cha chạy nhảy trong nhà

cho cha đích thực được làm cha

mẹ tiêu hao quá nhiều sinh lực

cha chỉ thức vài hôm

Mẹ có mấy khi được ngủ

nằm xuống, ngồi lên đêm hóa thành ngày

dòng sữa dành cho con

mẹ nổi gân tay

Đã có bài thơ nào cho mẹ của con đây

Cha không nhớ ra một điều đơn giản nhất

nụ hoa nào có thể ra đời

thiếu sự cưu mang của đất.
(Hoa và đất-
Đỗ Trung Quân)

Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ nào?

  1. Lục bát Tự do               C. Thất ngôn tứ tuyệt         D. Bảy chữ         

Câu 2. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là?

  1. Miêu tả Nghị luận          C. Thuyết minh                D. Biểu cảm

Câu 3. Từ “nhỏ nhoi” trong câu thơ “mẹ gầy đi, mẹ nhỏ nhoi” thuộc loại từ nào?

  1. Từ tượng thanh Từ tượng hình    C. Từ địa phương    D. Biệt ngữ xã hội.

Câu 4.  Hình tượng “ hoa” trong văn bản được sử dụng bằng biện pháp tu từ gì?

  1. Ẩn dụ Hoán dụ                  C. Điệp  ngữ                 D. N hân hoá

Câu 5. Những dòng thơ nào trong đoạn (2) nhắc đến mối quan hệ không thể thiếu giữa “hoa” và “đất”?

A.   Mẹ không làm thơ không viết văn/ nên chỉ gọi con bằng con của mẹ.

B.    nụ hoa nào có thể ra đời/ thiếu sự cưu mang của đất.

     C. Đôi mắt mẹ thâm quầng thiếu ngủ / bao nhiêu đêm con khó nhọc trong người
     D. Mẹ có mấy khi được ngủ/ nằm xuống, ngồi lên đêm hóa thành ngày

Câu 6. Hình tượng “ đất” trong văn bản tượng trưng cho điều gì?

  1. Hình tượng ẩn dụ cho người mẹ. Mẹ sinh ra ta với bao nhọc nhằn, vất vả,

nhận về mình bao thô ráp, xấu xí để con được khoẻ mạnh, bụ bẫm, đáng yêu. Mẹ  nuôi dưỡng con cả về thể chất và tâm hồn để con lớn khôn, trưởng thành.

A.   Hình tượng ẩn dụ cho người cha. Cha nuôi dưỡng con cả về thể chất và tâm

hồn để con lớn khôn, trưởng thành.

B.   Hình tượng ẩn dụ cho cả cha và mẹ.Cha mẹ sinh ra ta với bao nhọc nhằn, vất

vả, bao hi sinh để con lớn khôn, trưởng thành.

D.Hình tượng ẩn dụ cho đứa con bụ bẫm, đáng yêu, được lớn lên trong tình yêu

thương của cha mẹ.

Câu 7. Bài học mà bạn đọc rút ra từ văn bản là gì?

  1. Khắc ghi và biết ơn những tình cảm, công ơn trời bể của cha mẹ dành cho ta.
  2. Học cách quan tâm, yêu thương và chăm sóc cha mẹ để báo đền sự hi sinh to

lớn mà cha mẹ dành cho ta.

  1. Cha mẹ sinh ra ta, nuôi ta khôn lớn trưởng thành đó là trách nhiệm của họ.
  2. A và B

Câu 8. Văn bản gửi gắm đến bạn đọc thông điệp sâu sắc nào?

  1. Tình cảm gia đình là tình cảm thiêng liêng sâu nặng.
  2. Tình yêu thương mà cha mẹ dành cho con cái là tình yêu thương vẹn tròn, vô

bờ và vô điều kiện. Bởi vậy, đạo làm con hãy  luôn nghĩ về gia đình, nghĩ về cha mẹ với sự kính trọng, biết ơn, trân trọng và yêu thương cha mẹ vô hạn.

  1. Tình mẹ dạt dào, cao cả.
  2. Tình cha ấm áp,dịu êm.

Câu 9. Chỉ ra và phân tích giá trị biểu đạt của phép điệp cấu trúc và phép liệt kê được sử dụng ở đoạn (1)?

Câu 10.Từ nội dung phần đọc hiểu, hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ về ý nghĩa mà hai câu thơ “ nụ hoa nào có thể ra đời/ thiếu sự cưu mang của đất”?

  1. Phần viết: Viết lại đoạn văn ghi lại cảm xúc về bài thơ sau:

                                      “ Không có gì tự đến đâu con”:

Không có gì tự đến đâu con.

Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa

Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa.

Mùa bội thu phải một nắng hai sương,

Không có gì tự đến dẫu bình thường.

Phải bằng cả bàn tay và nghị lực

Như con chim suốt ngày chọn hạt,

Năm tháng bao dung khắc nghiệt lạ kỳ.

 

Dẫu bây giờ cha mẹ đôi khi,

Có nặng nhẹ yêu thương và giận dỗi.

Có roi vọt khi con hư và có lỗi

Thương yêu con, đâu đồng nghĩa với nuông chiều!

 

Đường con đi dài rộng biết bao nhiêu…

Năm tháng nụ xanh giữ cây vươn thẳng,

Trời cao đó nhưng chẳng bao giờ lặng,

Chỉ có con mới nâng nổi chính mình.

Nhớ Nghe Con!

                                                 ( Nguyễn Đăng Tấn )

* CHÚ THÍCH: Bài thơ “Không có gì tự đến đâu con”, được nhà thơ Nguyễn Đăng Tấn viết tặng con là Nguyễn Đăng Tiến vào khoảng năm 1995, khi Tiến đang học lớp 3. Bài thơ được in trong tập thơ “Lời ru Vầng trăng”, xuất bản năm 2000.

Đề số 2

I.Phần đọc hiểu:
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:

       Mỗi bông cỏ may như mũi kim nhỏ dệt đan tấm vải ký ức, nhắc một việc nhân hậu trong quá khứ, nhắc một cái quàng vai ấm áp, nhắc một lời động viên đúng lúc đúng người… Nên người cho dẫu đi xa nhưng vẫn như sống cùng ngày mới, cùng vui buồn đang tới, cùng những mạnh mẽ vụng dại của người đang sống.

      Khi ai đó gieo những hạt mầm tốt đẹp, nhất định nó sẽ có ngày nảy nở thành vụ mùa bội thu, khiến cho dù chủ nhân có không còn trên cõi đời, thì hương hoa thơm, vị quả ngọt vẫn nhắc khôn nguôi về họ. Khi ta gieo một hạt mầm tốt đẹp ta làm cho cuộc sống của mình tỏa hương.

     Khi không gian thông tin càng mở rộng, con người có xu hướng cảm thấy ngạt thở trước dòng thác cuồn cuộn rác rến, tin tức tiêu cực. Những điều đó cộng hưởng thành chất xúc tác góp vào quá trình xây đắp những định kiến, những nghi kỵ, những mất lòng tin. Tất thảy cuối cùng làm xói mòn tất cả. Khiến người lầm lũi đi qua nhau. Khiến bố lầm lũi tránh khi giữa đường gặp chuyện bất bằng. Khiến mẹ tự biết “bé cái mồm” khi khựng lại trước những gì chướng tai gai mắt. Khiến em nghĩ và tin rằng không còn ai tin vào nước mắt. Khiến anh biết sai quấy mà vẫn cho qua. Khiến chị vô cảm đi về mỗi ngày,chừng nào những đau đớn chưa chạm đến người thân ruột thịt cận kề.

     Không còn tin có điều tốt trên đời là trạng thái còn đáng sợ hơn cái chết. Không còn tin có người tốt trên đời là cảm xúc của trước ngày tận thế. Trạng thái thiếu vắng niềm tin sẽ xói mòn, sẽ ăn mòn tâm hồn con người mỗi ngày còn hơn cả những bệnh tật thế chất, còn hơn cả những axit mạnh nhất. Nhất là đến một ngày không còn ai nghĩ đến gieo hạt nữa, bởi trong tâm đã thiếu vắng niềm tin về mùa màng đơm hoa kết trái.

 (Chỉ là những bông cỏ may, Hà Nhân,)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích?

  1. Miêu tả B. Nghị luận C. Thuyết minh            D. Biểu cảm

Câu 2. Theo tác giả, điều gì ăn mòn tâm hồn con người?

  1. Theo tác giả, điều ăn mòn tâm hồn con người chính là trạng thái thiếu vắng

niềm tin.

B.Theo tác giả, điều ăn mòn tâm hồn con người chính là trạng thái thiếu vắng

niềm tin, không còn tin tưởng vào điều tốt đẹp trong cuộc sống.

C.Theo tác giả, điều ăn mòn tâm hồn con người chính là trạng thái không còn tin

tưởng vào điều tốt đẹp trong cuộc sống.

D.Theo tác giả, điều ăn mòn tâm hồn con người chính là trạng thái bâng khuâng,

xao xuyến của con người.

Câu 3. Theo tác giả, điều ăn mòn tâm hồn con người để lại hậu quả như thế nào?

  1. Không còn ai muốn gieo hạt mầm nữa.
  2. Không còn ai muốn gieo hạt mầm, tức là không ai làm những việc tốt đẹp

nữa.

C.Không còn ai nghĩ đến gieo hạt nữa, bởi trong tâm đã thiếu vắng niềm tin về

mùa màng đơm hoa kết trái.

  1. Không còn ai nghĩ đến gieo hạt nữa, bởi trong tâm đã thiếu vắng niềm tin về

tương lai tốt đẹp.

Câu 4. Câu “ Mỗi bông cỏ may như mũi kim nhỏ dệt đan tấm vải ký ức…” sử dụng biện pháp tu từ nào?

A.Nhân hoá              B. So sánh                     C. Ẩn dụ                D. Điệp ngữ

Câu 5. Khi không gian thông tin càng mở rộng, con người có xu hướng nào?

  1. Cảm thấy ngạt thở trước dòng thác cuồn cuộn rác rến, tin tức tiêu cực.
  2. Cảm thấy bất bình trước cái xấu cái ác.
  3. Cảm thấy sự thờ ơ trong mắt nhau.
  4. Cảm thấy buồn vì không quan tâm tới nhau nữa.

Câu 6. Theo văn bản “Khi ai đó gieo những hạt mầm tốt đẹp” nhất định sẽ có điều gì?

A.Có những điều kì diệu xuất hiện

B.Có cầu vồng xuất hiện

C.Có ngày nảy nở thành vụ mùa bội thu

D.Có mùa vàng reo ca.

Câu 7.Theo em,việc gieo hạt mầm tốt cho người khác mang lại điều gì cho bản thân?

         A.Gieo hạt mầm tốt đẹp cho người khác là làm đẹp tâm hồn mình.

B.Gieo hạt mầm tốt đẹp cho người khác là việc làm có ý nghĩa tích cực góp phần xây đắp cuộc sống tốt đẹp, nhân văn hơn.

C.Gieo hạt mầm tốt đẹp cho người khác là việc làm gieo yêu thương. 

D.Gieo hạt mầm tốt đẹp cho người khác là việc làm có ý nghĩa tích cực

Câu 8. Theo em,việc gieo hạt mầm tốt đẹp trong chính mình có ý nghĩa như thế nào?

A.Gieo hạt mầm tốt đẹp trong chính mình, mỗi người sẽ tự loại bỏ những suy nghĩ ích kỉ, tiêu cực để hướng tới cái thiện, cái đẹp.

  1. Gieo hạt mầm tốt đẹp trong chính mình, mỗi người sẽ tự loại bỏ những suy nghĩ ích kỉ, tiêu cực để hướng tới cái thiện, cái đẹp. Chỉ khi nuôi dưỡng cái thiện bên trong tâm hồn, con người mới có thể làm được những điều tốt đẹp một cách tự nguyện, say mê.
  2. Gieo hạt mầm tốt đẹp trong chính mình, mỗi người sẽ tự loại bỏ những suy nghĩ ích kỉ, tiêu cực.
  3. Gieo hạt mầm tốt đẹp trong chính mình sẽ nuôi dưỡng cái thiện bên trong tâm hồn, con người mới có thể làm được những điều tốt đẹp một cách tự nguyện, say mê.

Câu 9. Chỉ ra và phân tích giá trị biểu đạt của biện pháp tu từ ẩn dụ được sử dụng trong câu văn:“Khi ai đó gieo những hạt mầm tốt đẹp, nhất định nó sẽ có ngày nảy nở thành vụ mùa bội thu, khiến cho dù chủ nhân có không còn trên cõi đời, thì hương hoa thơm, vị quả ngọt vẫn nhắc khôn nguôi về họ.”?

Câu 10. Em hãy viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về ý kiến  được gợi ra ở phần đọc – hiểu: “Khi ta gieo một hạt mầm tốt đẹp ta làm cho cuộc sống của mình tỏa hương.”

  1. PHẦN TỰ LUẬN

Đọc và phân tích truyện ngăn sau:

Tôi đi học dưới đồng bằng. Còn bố tôi, từ núi đồi hiểm trở, ông luôn dõi theo tôi.

Bao giờ cũng vậy, ông mặc chiếc áo kẻ ô phẳng phiu nhất, xuống núi vào cuối mỗi tuần. Ông rẽ vào bưu điện để nhận những lá thư tôi gửi. Lặng lẽ, ông vụng về mở nó ra. Ông xem từng con chữ, lấy tay chạm vào nó, rồi ép vào khuôn mặt đầy râu của ông. Rồi lặng lẽ như lúc mở ra, ông xếp nó lại, nhét vào bao thư. Ông ngồi trầm ngâm một lúc, khẽ mỉm cười rồi đi về núi.

Về đến nhà, ông nói với mẹ tôi: “Con mình vừa gửi thư về.”. Mẹ tôi hỏi: “Thư đâu?”. Ông trao thư cho bà. Bà lại cẩn thận mở nó ra, khen: “Ôi, con mình viết chữ đẹp quá! Những chữ tròn, thật tròn, những cái móc thật bén. Chỉ tiếc là không biết nó viết gì. Sao ông không nhờ ai đó ở bưu điện đọc giùm?”. Ông nói: “Nó là con tôi, nó viết gì tôi biết cả.”. Rồi ông lấy lại thư, xếp vào trong tủ cùng những lá thư trước; những lá thư được bóc ra nhìn ngắm, chạm mặt rồi cất vào, không thiếu một lá, ngay cả những lá thư đầu tiên nét chữ còn non nớt.

 

Hôm nay là ngày đầu tiên tôi bước chân vào trường đại học. Một ngày ngày khai trường đầu tiên không có bố. Bố tôi đã mất. Nhưng tôi biết bố sẽ đi cùng tôi trên những con đường mà tôi sẽ đi, suốt cả hành trình cuộc đời.

(Theo Nguyễn Ngọc Thuần, Nhện ảo, NXB Kim Đồng)

 

 

  1. ĐỌC – HIỂU. (6,0 điểm):

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:

QUÊ HƯƠNG

          Cả lớp lặng im, những con mắt đổ dồn về phía tôi khi nghe tôi đọc xong bài văn tả phong cảnh quê hương được cô giáo cho điểm cao nhất lớp hôm nay. Cô giáo đi lại gần, hỏi tôi thoáng một chút nghi ngờ:

– Là một học sinh thành phố, làm thế nào mà em có thể viết được một bài văn tả quê hương sâu sắc, chân thật và gần gũi đến như vậy?!

– Thưa cô… bà em… giúp em ạ!

– Sao? Em vừa nói gì? Bà em viết hộ em à?

– Thưa cô, không ạ!… vâng, đúng ạ!

Tôi nhìn ra hàng phượng vĩ trước sân trường và chợt nhớ đến mùa hè năm ấy… Tháng 5, bố đưa tôi về quê nội. Quê nội tôi, một xóm nghèo bên kia sông Hồng. Biết bao lần, tôi đã mơ ước được về thăm quê, thăm bà, thế nhưng mới bước chân lên con đường làng lầy lội, lớp nhớp bùn sau cơn mưa, nhìn những mái nhà tranh thấp tè ẩm ướt sau luỹ tre làng, tôi đã bắt đầu thất vọng. Tôi không dám cằn nhằn nhưng ấm ức nghĩ thầm: “Sao mà bẩn thế! Biết thế này, mình chẳng đòi bố cho về nữa”.

Bố tôi tươi cười chào người làng, có lúc lại còn đứng lại nói chuyện với một bác gánh phân. Bữa cơm trưa hôm ấy, bà tôi tấm tắc khen ngon và gắp vào bát tôi miếng thịt luộc. Tôi gắp ra nhăn mặt: “Mỡ thế này, cháu ăn làm sao được!”

Bố chan cho tôi canh cua, mới ăn được một miếng tôi đã vội kêu lên: “Canh chưa cho mì chính, nhạt lắm, lại hoi hoi, con ăn chưa quen…”. Cả nhà lặng người. Bố tôi tái mặt vì giận…

Tối hôm ấy trăng rằm, bà tôi kê ghế ra ngoài sân nhặt khoai lang và kể cho tôi nghe đủ mọi chuyện. Bà kể rằng, bố tôi đã từ nơi này ra đi. Và chính nơi này, bố tôi đã lớn lên bằng lời ru của bà, bằng đôi tay ẵm bồng của bao người. Bà đã từng mớm cơm cho tôi, nuôi tôi khôn lớn ở đây… Tình cảm quê mùa nhưng chân thật. Bà chỉ tay về phía góc trời sáng rực lên và bảo đó là Hà Nội. Bà bảo rằng: ” ở Hà Nội sướng hơn ở quê nên ai ai cũng ước ao được sống ở Hà Nội, còn bà thì bà thích ở quê hơn vì bà quen mất rồi. Nếu cháu cứ ở Hà Nội mãi, sẽ chẳng bao giờ biết được ánh trăng ở quê đẹp như thế nào đâu!”

Tôi ngước nhìn lên bầu trời xanh thẳm không một gợn mây chi chít những vì sao. Trăng treo lơ lửng trên đầu ngọn tre in đậm lên nền trời. Anh trăng trùm lấy mái nhà và khu vườn rau xanh tốt của bà. Lúc ấy, tôi bỗng nắm chặt lấy tay bà và thốt lên:

“Bà ơi! Trăng ở quê đẹp thật bà ạ!…”

Sau mùa hè năm ấy, bà nội tôi đã ra đi mãi mãi. Hè nào tôi cũng xin bố cho về thăm quê. Quê nội tôi bây giờ cũng khác hẳn, chẳng còn một tý dấu vết nào của ngày xưa nữa. Những dãy nhà hai, ba tầng san sát nhau mọc lên như nấm. Không ai còn nhớ nổi bóng dáng luỹ tre xanh….Tôi cầm bút viết, dồn tất cả tình cảm nhớ thương sâu đậm với bà vào bài tập làm văn tả phong cảnh quê hương hôm ấy… Tôi viết về quê hương tôi với luỹ tre xanh mát rượi và ánh trăng rằm dịu ngọt. Phải rồi, tôi bỗng hiểu ra rằng: chính bà đã làm xanh mãi ước mơ của tôi./.

                                                                       (Truyện ngắn của Đào Quốc Thịnh)

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn bản là gì?

  1. Biểu cảm         B. Miêu tả      C. Tự sự             D. Thuyết minh

Câu 2: Đoạn trích trên được kể từ điểm nhìn trần thuật của nhân vật nào?

  1. Nhân vật người bà      B. Nhân vật người bố
  2. Nhân vật người kể chuyện D. Nhân vật cô giáo

Câu 3: Cho biết từ in đậm trong câu sau: “Thưa cô… bà em… giúp em ạ!” thuộc thành thành phần biệt lập nào?

  1. Thành phần tình thái B. Thành phần cảm thán
  2. Thành phần chêm xen  D. Thành phần gọi – đáp

Câu 4: Câu “Mỡ thế này, cháu ăn làm sao được!” được dùng để

  1. Để hỏi B. Bộc lộ cảm xúc
  2. Để yêu cầu D. Để nhận định

Câu 5. Người bà trong truyện là một nhân vật có tính cách như thế nào?

  1. Tần tảo, giàu đức hi sinh
  2. Thương con, thương cháu
  3. Kiên nhẫn, tần tảo
  4. Vị tha, tần tảo, giàu lòng yêu thương

Câu 6. Trong truyện vì sao người bố lại tái mặt vì giận khi người con chê bát canh cua ?

  1. A. Vì con hỗn với bà
  2. Vì con đã không trân trọng và đánh giá đúng mức những điều tốt đẹp mà quê hương và gia đình mang lại
  3. Vì con đã không chút tế nhị và ý tứ.
  4. Vì sợ bà buồn, giận.

Câu 7. Ý nghĩa của chi tiết cuối truyện : “Phải rồi, tôi bỗng hiểu ra rằng: chính bà đã làm xanh mãi ước mơ của tôi” là gì?

  1. Bà là người chắp cánh cho ước mơ của cháu
  2. Sự hiểu biết sâu sắc và trân trọng của cháu với người bà và quê hương
  3. Bà giúp cháu thêm yêu quê hương
  4. Tình cảm sâu sắc của cháu dành cho bà

Câu 8: Chủ đề của câu chuyện trên là

  1. Tình yêu quê hương B. Tình mẫu tử
  2. Tình cảm gia đình D. Tình bạn

Câu 9. Thông điệp sâu sắc nhất được rút ra từ văn bản?.

Câu 10: Từ nội dung phần  đọc hiểu em hãy viết một đoạn văn nghị luận khoảng 10- 15 dòng bàn về sự cần thiết phải có tình yêu quê hương.

Phần II.  VIẾT  (4,0 điểm)

          Phân tích truyện “Quê hương” (ngữ liệu phần đọc hiểu) của Đào Quốc Thịnh.

Đề số 3

  1. Phần: Đọc hiểu

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi

                             TÔI ĐÃ ĐỌC ĐỜI MÌNH TRÊN LÁ

Tôi đã đọc đời mình trên lá
người nâng niu lộc biếc mùa xuân
người hóng mát dưới trưa mùa hạ
người gom về đốt lửa sưởi mùa đông

 

Tôi đã đọc đời mình trên lá
lúc non tơ óng ánh bình minh
lúc rách nát gió vò, bão quật
lúc cao xanh, lúc về đất vô hình

 

Tôi đã đọc đời mình trên lá
có thể khổng lồ, có thể bé li ti
dẫu tồn tại một giây vẫn tươi niềm kiêu hãnh
đã sinh ra
chẳng sợ thử thách gì.

                                       (Nguyễn Minh Khiêm, Đọc đời mình trên lá,

                                                         dẫn theo vannghequandoi.com.vn, 19/06/2014)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản?

  1. Tự sự B. Miêu tả
  2. Nghị luận D. Biểu cảm

Câu 2: Bài thơ được viết theo thể thơ nào?

  1. Năm chữ C. Tám chữ

B.Tự do                                                                D. Lục bát

Câu 3: Điểm đặc biệt của mỗi khổ thơ trong bài thơ là gì?

  1. Chỉ viết hoa chữ cái đầu dòng của khổ thơ.

B.Tất cả các chữ cái đầu dòng đều viết hoa

C.Tất cả các chữ cái đầu dòng không viết hoa

D.Viết hoa chữ cái ở dòng thứ nhất và dòng thứ ba của khổ.

Câu 4: Cụm từ “đọc đời mình trên lá” trong văn bản có ý nghĩa gì?

  1. Con người đọc được những điều tuyệt vời trên lá
  2. Con người có những phẩm chất của chiếc lá: Vượt qua những khó khăn, thử thách gió bão, qua đó thể hiện ước mơ, khao khát trong cuộc đời.
  3. Con người có những đặc điểm của chiếc lá: Xanh tươi, mơn mởn.
  4. Con người có những màu sắc của chiếc lá: Xanh khi non, vàng khi già.

Câu 5: Từ “khổng lồ” trong khổ thơ thứ ba có ý nghĩa như thế nào?

  1. Người đạt được nhiều thành tựu, thành công rực rỡ.
  2. Người không có thành tựu gì.
  3. Người khổng lồ, cao lớn về tầm vóc.
  4. Người có khả năng vượt trội

Câu 6: Từ “bé ti tí” trong khổ thơ thứ ba có thể hiểu là?

  1. Người sống khiêm nhường, lặng lẽ.
  2. Người sống kiêu căng, tự phụ
  3. Người có tầm vóc bé nhỏ
  4. Người có niềm kiêu hãnh, tự tin thái quá.

Câu 7. ‌‌Bài học sâu sắc nhất mà em “đọc” được từ văn bản trên?

  1. Hãy luôn là chính mình, tự tin và mạnh mẽ bước qua khó khăn, thử thách
  2. Hãy luôn tự tin và mạnh mẽ bước qua khó khăn sẽ đạt được thành quả xứng

đáng.

  1. Hãy luôn là chính mình, thử thách sẽ đạt được thành quả xứng đáng.
  2. Hãy luôn là chính mình, tự tin và mạnh mẽ bước qua khó khăn, thử thách sẽ đạt được thành quả xứng đáng.

Câu 8. Anh (Chị) hiểu nội dung hai câu thơ sau “Tôi đã đọc đời mình trên lá/ lúc non tơ óng ánh bình minh” như thế nào?

A.Những niềm vui, niềm hạnh phúc, tất cả tinh túy của trời đất, tràn đầy sức sống  niềm hân hoan, phấn khởi.

B.Những niềm vui cuộc sống mà con người được đón nhận

C.Những khó khăn, gian truân của cuộc đời khiến con người cảm thấy tổn thương, bế tắc, tuyệt vọng

D.Những nỗi buồn, nỗi bất hạnh mà con người phải đối mặt.

Câu 9 : Nêu tác dụng của biện pháp tu từ ẩn dụ trong khổ hai của bài thơ?

Câu 10: Dựa vào văn bản hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về hai câu thơ cuối của bài thơ “ đã sinh ra/ chẳng sợ thử thách gì”?

  1. PHẦN TỰ LUẬN

Lựa chọn 1 trong 2 câu sau

Câu 1: viết đoạn văn ghi lại cảm xúc về bài thơ : Tôi đã ghi lại đời mình trên chiếc lá

Câu 2 :          PHÂN TÍCH TRUYỆN NGẮN

HỘP CƠM CUỐI CÙNG CỦA MẸ

Chi lại đến đây rồi! Giọng tôi quát lên khi nhìn thấy mẹ Tấn Dũng tay xách hộp cơm đến cho cậu bé, bởi trường chúng tôi có quy định không cho phụ huynh mang cơm cho học sinh.

Thầy giáo à…!

– Trời ơi, không phải tôi đã nói với chị rồi sao, trưởng học không cho phụ huynh mang cơm đến cho học sinh. Nếu ai cũng như chị thì trước cổng trường sẽ đông nghịt người, như vậy, chúng tôi làm sao để cho học sinh nghi giải lao đây?

 – Tôi biết, tôi biết…

– Biết rồi mà vẫn mang đến, đây gọi là biết rõ sai nhưng vẫn làm. Chị không biết đường để cậu bé tự mang đi sao?

– Tôi xin lỗi… xin lỗi thầy…

Những lời của người mẹ này, không biết tôi đã nghe bao nhiêu lần rồi. Cứ mỗi lần đến buổi trưa là bà lại mang cơm đến cho con, rồi năn nỉ, năn nỉ…

Tân Dũng là cậu học sinh ít nói, sống nội tâm. Có một lần trong giờ học, nhìn thấy cậu bé gật gà gật gù, tôi liền nhắc nhở. Nhưng cậu bé cứ như thế, ngủ gật từ đầu đến cuối buổi học, tôi bực mình không chịu được liền gọi cậu ta lên hỏi lý do tại sáo, câu trả lời của cậu bé khiến mọi tức giận trong tôi dần biến mất:

– Thưa thầy! Vì tối qua mẹ em phải vào cấp cứu trong bệnh viện nên…

 – Mẹ em bị sao? – Mẹ em bị ung thư phổi ạ!

Tôi bàng hoàng, nhìn thân hình yếu ớt của Tân Dũng mà sống mũi tôi cay cay. Bữa cơm hôm ấy ở nhà, nhìn thấy vợ tối cho con ăn, tôi chợt nghĩ đến hình ảnh mẹ Tân Dũng luôn giấu cơm để đưa cho em.

 Hôm sau, sau khi tan làm, tôi đi đến bệnh viện nơi mẹ Tân Dũng đang chữa bệnh. […] Bố Tân Dũng buồn bã nói với tôi:

– Thầy giáo có thể giúp tôi một việc này được không?

 – Anh cử nói, chỉ cần làm được, tôi sẽ cố gắng hết sức.

Mấy ngày trước, bà ấy cứ nắm chặt tay Tân Dũng và nói “Từ nay, mẹ không còn mang cơm cho con được nữa rồi!”. Tôi muốn nhờ thầy giáo hãy để cho ba ấy đưa cơm cho Tân Dũng lần cuối cùng để khi ra đi bà ấy được thanh thản, mong thầy giúp đỡ.

Tôi không thể không đồng ý.

 Buổi trưa, chiếc xe cấp cứu còi inh ỏi đi đến trước cổng trường. Bố Tân Dũng cùng một vị y tá đỡ chiếc giường mà mẹ em đang nằm xuống. Tôi đứng sang bên cạnh, lặng người với cảnh tượng trước mắt.

 Bố Tân Dũng mua sẵn một hộp cơm, mẹ Tân Dũng nằm trên giường bệnh yếu ới đưa tay ra cầm lấy. Ở bên kia cánh cổng trường, Tân Dũng đưa tay ra đón lấy hộp cơm mẹ đưa.

Mẹ ơi! Tân Dũng bật khóc nức nở.

Lúc đó, tôi chứng kiến tận mắt mọi chuyện, hình như mẹ em muốn nói lời gì đó nhưng không thể nói nên lời.

– Mẹ ơi, con không muốn rời xa mẹ đâu! Tân Dũng vừa khóc vừa hét lên.

Tôi cũng bật khóc, giá như trước đây tôi không ngăn cản bà mang cơm đến… Điều ước của người mẹ thật đơn giản…

 Ngày hôm sau, mẹ em qua đời. Sau đó một ngày, bố Tân Dũng đến văn phòng của tôi, đưa cho tôi một cái túi giấy.

–  Thầy giáo à, đây là số tiền mà các thầy và các cháu học sinh quyên góp cho tôi. Tôi thấy trong trường còn rất nhiều học sinh cần đến số tiền này, vì vậy tôi đem trả lại cho thầy. Cảm ơn tấm lòng của các thầy và các cháu học sinh!

 Sau đó, hàng ngày tôi đều nói chuyện với Tân Dũng, tôi sợ em không vượt qua được nỗi đau mất mẹ.

– Thưa thầy! Thầy yên tâm ạ, thầy không phải lo lắng cho em đâu ạ!

 Tân Dũng nói tiếp:

– Em đã sớm biết được mẹ sẽ ra đi rồi. Không phải là mẹ em không muốn nghe lời dặn của thầy, em cũng nói với mẹ đừng đưa cơm đến nữa… Nhưng vì trong ngày chỉ có buổi trưa em mới được ăn cơm mẹ nấu thôi ạ!

Tôi bỗng run lên: – Tại sao vậy? – Mẹ em rất yếu, mọi việc trong nhà đều do bố làm hết, nấu cơm cũng vậy. Chỉ có buổi trưa bố vắng nhà, mẹ mới giấu bố để làm cơm cho em. Mẹ cử nhất quyết phải mang cơm đến vì mẹ muốn em được ăn cơm mẹ nấu.

Nói xong, Tân Dũng òa khóc.

Mắt tôi cũng ngấn lệ từ lúc nào không hay. Bữa cơm của mẹ thật đảng giả biết bao..

                                                             (Nguyễn Nhật Ánh)

 

Đề số 3

I.Phần đọc – hiểu

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi

Khi chim yến chắt máu mình làm tổ

Nơi tận cùng vách đảo giữa trùng khơi

Yến chỉ nghĩ giữa sóng thần bão tố

Phải có riêng một tổ ấm cho đời.

 

Dẫu nhỏ bé cũng là máu thịt

Yến xây nên khát vọng riêng mình

Chẳng hề nghĩ so cùng ai kiểu dáng

Chỉ muốn tự do được hót giữa trời xanh.

 

Con chim nhỏ suốt một đời lặng lẽ

Muốn giấu đi những gian khổ nhọc nhằn

Yến đâu biết cái nhỏ nhoi mình có

Đã hóa thành quà tặng thế gian.

(Chim yến làm tổ- Nguyễn Minh Khiêm, NXB Văn hóa Dân tộc, 1998)

Câu 1: Văn bản trên được viết theo thể thơ nào?

  1. Tự do B. Bảy chữ C. Năm chữ            D. Lục bát

Câu 2. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản?

A.Nghị luận             B.  Biểu cảm                 C.Tự sự                  D.  Miêu tả

Câu 3. Theo văn bản, chim yến làm tổ ở nơi nào?

A.Nơi tận cùng vách đảo giữa trùng khơi

B.Nơi địa đầu Tổ quốc

C.Trên mái nhà

D.Trên cây xoan trong vườn

Câu 4: Những hình ảnh trong văn bản thể hiện những gian khổ nhọc nhằn mà chim yến phải đối diện trong quá trình làm tổ?

  1. Chắt máu mình, tận cùng biển khơi, giữa sóng thần bão tố
  2. Chắt máu mình, tận cùng vách đảo, giữa muôn ngàn sóng bể.
  3. Chắt sức mình, tận cùng vách đảo, giữa sóng thần bão tố
  4. Chắt máu mình, tận cùng vách đảo, giữa sóng thần bão tố

Câu 5 Câu thơ “Con chim nhỏ suốt một đời lặng lẽ” sử dụng biện pháp tu từ gì?

A.Điệp ngữ                  B. Hoán dụ              C.Nhân hoá.             B. Ẩn dụ

Câu 6. Xét về mục đích nói, câu “ Yến chỉ nghĩ giữa sóng thần bão tố/ Phải có riêng một tổ ấm cho đời.” thuộc kiểu  câu gì?

  1. Câu trần thuật Câu cảm thán
  2. Câu cầu khiến Nghi vấn

Câu 7. Trong bài thơ, Chim yến mong muốn điều gì?

A.Muốn được bay giữa biển khơi

B.Muốn tự do được hót giữa trời xanh.

C.Muốn được làm nên những mùa vàng bội thu

D.Muốn được yên ấm trong tổ của mình

Câu 8: Những dòng thơ Con chim nhỏ suốt một đời lặng lẽ/ Muốn giấu đi những gian khổ nhọc nhằn” giúp anh/chị hiểu như thế nào về thái độ của tác giả?

  1. Cảm phục sự cần mẫn, lặng lẽ làm việc của laoif chim bé nhỏ.
  2. Trân trọng, yêu quý, cảm phục sự cần mẫn, âm thầm, lặng lẽ cống hiến của loài chim bé nhỏ. Đồng thời bày tỏ thái độ trân trọng, yêu quý những con người khiêm nhường, lặng lẽ, cần mẫn cống hiến cho đời.
  3. Thờ ơ, vô cảm trước những cống hiến âm thầm của chim yến.
  4. Yêu quý, tự hào vì những gì chim yến đã cống hiến.

Câu 9: Từ khát vọng của chim yến trong văn bản anh/chị có suy nghĩ gì về khát vọng của con người trong cuộc sống hôm nay qua đoạn thơ:

                                            Dẫu nhỏ bé cũng là máu thịt

    Yến xây nên khát vọng riêng mình

      Chẳng hề nghĩ so cùng ai kiểu dảng

            Chỉ muốn tự do được hót giữa trời xanh.
Câu 10: Từ nội dung bài thơ phần đọc – hiểu,em hãy viết đoạn văn  (Khoảng 200 chữ)

Trình bày suy nghĩ về “Sống là dâng tặng” ?

  1. PHẦN TỰ LUẬN

Lựa chọn 1 trong 2 câu sau :

Câu 1: Viết đoạn văn ghi lại cảm xúc về bài thơ : “ Chim yến làm tổ”

Câu 2:

Nhà văn William Shakespeare đã từng nói: “Không di sản nào quý giá bằng lòng trung thực”. Hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về vai trò của lòng trung thực trong đời sống của con người.

ĐỀ SỐ 4L1

Đọc ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

Con yêu mẹ

 – Con yêu mẹ bằng ông trời

 Rộng lắm không bao giờ hết

– Thế thì làm sao con biết

Là trời ở những đâu đâu

Trời rất rộng lại rất cao

Mẹ mong, bao giờ con tới!

 – Con yêu mẹ bằng Hà Nội

Để nhớ mẹ con tìm đi

Từ phố này đến phố kia

Con sẽ gặp ngay được mẹ

 – Hà Nội còn là rộng quá

 Các đường như nhện giăng tơ

Nào những phố này phổ kia

Gặp mẹ làm sao gặp hết!

 – Con yêu mẹ bằng trường học

Suốt ngày con ở đấy thôi

Lúc con học, lúc con chơi

Là con cũng đều có mẹ

 – Nhưng tối con về nhà ngủ

Thế là con lại xa trường

Còn mẹ ở lại một mình

Thì mẹ nhớ con lắm đấy

Tinh mẹ củ là hay nhớ

 Lúc nào cũng muốn bên con

Nếu có cái gì gần hơn

Con yêu mẹ bằng cái đó

À mẹ ơi có con dế

 Luôn trong bao diêm con đây

 Mở ra là con thấy ngay

Con yêu mẹ bằng con dế.

 (Xuân Quỳnh, Lời ru trên mặt đất)

  1. PHẦN TRẮC NGHIỆM

 Câu 1. (0,5 điểm) Văn bản “Con yêu mẹ” được viết theo thể thơ nào?

  1. Lục bát B. Tu do C. Sáu chữ                        D. Ngũ ngôn

Câu 2. (0,5 điểm) Biện pháp tu từ nào được sử dụng trong hai câu thơ “Con yêu mẹ bằng Hà Nội Để nhớ mẹ con tim đi”

  1. So sánh. B. Nhân hoá, so sánh. C. Ẩn dụ, so sánh          D. Ẩn dụ.

Câu 3, (0,5 điểm) Xác định các phương thức biểu đạt của văn bản trên.

  1. Tự sự kết hợp miêu tả, biểu cảm.
  2. Tự sự kết hợp miêu tả, nghị luận.
  3. Biểu cảm kết hợp miêu tả, tự sự.
  4. Biểu cam kết hợp nghị luận.

Câu 4. (0,5 điểm) Tình yêu của đứa con dành cho mẹ được tác già so sánh với hình ảnh nào?

  1. Ông trời, Mặt trăng, con để.
  2. Hà Nội, đường đi, ông mặt trời.
  3. Con dễ, mặt trời, con đường đi.
  4. Ông trời, Hà Nội, trường học, con để

 Câu 5. (0,5 điểm) Văn bản là tỉnh cảm của ai dành cho ai?

  1. Tình cảm của mẹ dành cho con.
  2. Tỉnh cảm của con dành cho mẹ
  3. Tình cảm của mẹ dành cho thiên nhiên.
  4. Tình cảm của con dành cho trường học,

 Câu 6. (0,5 điểm) Trong hai câu thơ Hà Nội còn là rộng quả Các đường như nhận giăng tơ, có từ tượng thanh không?

  1. CÓ. B. Không.

Câu 7. (0,5 điểm) Dòng nào sau đây nêu đúng chủ đề bài thơ

  1. Tinh mẫu tử. B. Thiên nhiên tươi đẹp.
  2. Hình ảnh ông trời và trưởng học. D. Tình phụ tử.

Câu 8. (0,5 điểm) Câu thơ: “Con yêu mẹ bằng ông trời. Rộng làm không bao giờ hết” gởi điều gì?

  1. Ông trời bao la, rộng lớn. LL1 B. Hình dáng của mẹ.
  2. Thể hiện tình yêu rộng lớn, bao là của con dành cho mẹ.
  3. Sự lo lắng của mẹ dành cho con.

Câu 9. (1,0 điểm) Em hãy viết 5 – 7 đồng ghi lại những cảm nhận của em sau khi đọc văn bản “Con yêu mẹ”.

Câu 10. (1,0 điểm) Đọc xong văn bản “Con yêu mẹ” của Xuân Quỳnh, em sẽ làm gì để thể hiện tình cảm của mình với cha mẹ?

  1. PHÂN TỰ LUẬN

1.Trong cuộc sống, chúng ta đã được chứng kiến không ít các hiện tượng thiên nhiên kí thù. Em hãy lựa chọn để thuyết minh giải thích về một hiện tượng thiên nhiên.

  1. Ghi lại cảm xúc sau khi đọc xong bài thơ trên bằng 1 đoạn văn

 

ĐỂ SỐ 5

Đọc ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

NGƯỜI Ở

Hè này, bố đi công tác xa, mẹ phải thuê người giúp việc. Đó là Tuyết, chỉ trạc tuổi tôi nhưng siêng cực kỳ. Thấy tôi hay đi học thêm, nó có vẻ ngạc nhiên lắm. Nhất là khi thấy tôi xin mẹ tiền học, nó cử đứng ngẩn người nhìn.

 (…)

 Không ngờ, một lần, nó xem tờ kiểm tra toán của tôi rồi thốt lên:

– Toán mà cậu cũng bị xơi ngỗng ư?

Tôi giật lấy tờ giấy trên tay nó, trừng mắt:

 – Đây là toán học thêm, toàn loại nâng cao, khó cực kỳ chứ có phải dễ như toán nhà quê cậu đâu mà đòi nhiều điểm.

Tưởng là nó cũng tin như lần tôi giải thích bài văn tả con lợn. Nào ngờ, nó phì cười:

 — Hô… hô… Toán học thêm gì mà… dễ thế.

Tôi ngạc nhiên, hỏi lại:

 – Cậu dám nói bài toán này dễ ư? Vậy thì giải đi xem nào.

 Nó gật đầu rồi lấy bút giải, một loáng đã ra đáp số giống như cô giáo chữa ở lớp. Đến nước này thì tôi cũng chẳng cần sĩ diện làm gì nữa, chỉ dặn nó đừng để mẹ tôi biết kẻo lại bị ăn mắng.

Từ đó, tôi thực sự cảm phục Tuyết và càng ngày hai đứa càng thân nhau hơn.

Năm học mới sắp đến, tôi thấy buồn vì sắp phải chia tay Tuyết. Nhưng Tuyết lại tỏ ra vui lắm. Nó khoe với tôi:

– Minh ơi…. Mình đã kiếm đủ tiền để đi học tiếp rồi.

Thấy tôi không hiểu, Tuyết giải thích:

 – Nhà mình nghèo, chỉ đủ tiền cho em mình đến lớp thôi. May mà mình tìm được việc làm trong hè, mới có tiền cho năm học mới. Ôi… Mình mừng lắm…

Tôi không thể ngờ được một người như Tuyết lại phải làm người ở để kiếm tiền mới được đến lớp. Chẳng bù cho tôi, cái gì cũng có mà…..

Tuyết bỗng bùi ngùi:

 – Về nhà, mình sẽ rất nhớ bạn và….

Theo ánh mắt của Tuyết, tôi nhìn lên giả sách, thầm thấy xấu hổ vì rất nhiều cuốn tôi chưa đọc. Biết Tuyết vẫn ao ước có nhiều sách như mình, tôi kéo nó lại giả sách:

 – Tuyết thích quyển nào, tớ cũng tặng…

Tuyết cảm động:

– Minh tốt quá… Nhưng mình chỉ lấy những cuốn trùng nhau thôi. Trên giá sách này mình thấy nhiều cuốn sách tham khảo in trùng nhau, chỉ khác mỗi cái bìa… Vả lại Minh cũng phải xin phép mẹ nữa chứ.

Tất nhiên là mẹ tôi đồng ý rồi. Mẹ còn nói

– Nhân dịp này, hai mẹ con mình sẽ về thăm gia đình Tuyết.

 Nghe vậy, tôi mừng quá, chi biết về tay “hoan hồ mẹ”, Còn Tuyết, không hiểu vui hay buồn mà miệng thì cười, còn mắt cứ chấp chấp. Â… Tôi hiểu rồi. Nó lại xúc động ấy mà…

 (Thái Chí Thanh, Người ở, https://vanvnvn/ )

I PHẦN TRẮC NGHIỆM

Câu 1. (0,5 điểm) Trong đoạn trích trên có mấy nhân vật chính?

  1. 1. B. 2. C. 3                          D. 4

Câu 2. (0,5 điểm) Qua đoạn trích, có thể nhận thấy cốt truyện Người ở là cốt truyện đa tuyến, đúng hay sai?

  1. Đúng. B. Sai.

Câu 3. (0,5 điểm) Hoàn cảnh gia đình của nhân vật Tuyết trong đoạn trích như thế nào?

  1. Nhà nghèo.
  2. Nhà neo người. C. Nhà đông con.
  3. Mồ côi cha.

Câu 4. (0,5 điểm) Ý nào sau đây thể hiện đúng biện pháp xây dựng nhân vật Tuyết của nhà văn?

  1. Tác giả trực tiếp kể, miêu tả.
  2. Để cho nhân vật Minh kể, miêu tốt.
  3. Để cho mẹ của Minh kể, miêu tả.
  4. Nhân vật hiện lên qua ngôn ngữ, hành động.

Câu 5. (0,5 điểm) Điểu gì khiến Minh cảm phục Tuyết và hai bạn chơi thân với nhau hơn? A

. Tuyết rất siêng năng, chịu khó,

  1. Tuyết kiếm tiền nuôi em ăn học.
  2. Tuyết giải bài toán một loáng là xong
  3. Tuyết tự kiếm tiền để đi học.

Câu 6. (0,5 điểm) Trong câu văn: “Đến nước này thì tôi cũng chẳng cần sĩ diện làm gì nữa, chỉ dặn nó dùng để mẹ tôi biết kéo lại bị ăn mắng”, có những trợ từ nào?

  1. đến, chỉ. C. cũng, để.
  2. nay, chi. D. chi, bị .

Câu 7. (0,5 điểm) Điều gì đã khiến Tuyết vui mừng thốt lên “Ôi… Mình mừng lắm.”

  1. Tuyết được Minh tặng sách.
  2. Tuyết giúp Minh giải được bài toán,
  3. Tuyết kiếm đủ tiền để đi học.
  4. Tuyết được mẹ Minh và Minh về thăm.

Câu 8. (0,5 điểm) Trong câu văn: “Ôi… Mình mừng lắm…”, từ “Ôi…” là từ loại nào?

  1. Trợ tử. B. Thán tử.                  C. Chi tử.                     D. Phó tử

Câu 9. (1 điểm) Cảm nghĩ của em về nhân vật Tuyết trong đoạn trích trên. (Viết đoạn văn khoảng 5 – 7 dòng).

Câu 10. (1 điểm) Từ nội dung đoạn trích, em rút ra được bài học nào có ý nghĩa đối với bản thân?

II PHẦN TỰ LUẬN

  1. Phân tích truyện ngắn người ở

2.Viết đoạn văn khoảng 2 trang giấy thi, phân tích bài thơ sau:

Đường dài tương lai quê hương đang gọi mời

Tuổi trẻ hôm nay chung tay xây ngày mới

Dù lên rừng hay xuống biển

Vượt bão giông, vượt gian khổ

Tuổi trẻ kề vai vững vàng chân bước bạn ơi!

Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta,

Mà hãy hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay.

Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta,

Mà hãy hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay.

(Vũ Hoàng, Lời bài hát Khát vọng tuổi trẻ)

 HƯỚNG DẪN CHẤM

ĐỀ SỐ 6

 Đọc ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

                                        ANH HAI

Bên đường, người phụ nữ sang trọng trong xe đang dỗ dành con:

– Ăn thêm cái nữa đi con!

– Ngán quá, con không ăn đâu!

– Ráng ăn thêm một cái, má thương. Ngoan đi cưng!

 – Con nói là không ăn mà. Vứt đi! Vứt nó đi!

Thằng bé lắc đầu nguầy nguậy, gạt mạnh tay. Chiếc bánh kem văng qua của xe rơi xuống đường sát mép cổng. Chiếc xe hơi láng bỏng rồ máy chạy đi.

 Hai đứa trẻ đang bởi móc đống rác gần đó, thấy chiếc bánh nằm chỏng chơ liền xô đển nhặt. Mắt hai đứa sáng rực lên, dân chặt vào chiếc bánh thơm ngon. Thấy bánh lấm láp, đứa con gái nuốt nước miếng bảo thằng con trai:

– Anh Hai thổi sạch rồi mình ăn.

Thằng anh phùng mả thổi. Bụi đời đã dinh, chẳng chịu đi cho. Đứa em sốt ruột cũng ghé miệng thổi tiếp. Chính cái miệng háu đói của nó làm bánh rơi tõm xuống cống hôi hám, chìm hẳn.

 – Ai biểu anh Hai thổi chi cho mạnh. – Con bé nói rồi thút thít.

 – Ừa. Tại anh! Nhưng kem còn dính tay nè. Cho em ba ngón, anh chỉ liểm hai ngón thôi! (Theo Lý Thanh Thảo)

  1. PHẢN TRẮC NGHIỆM

 câu 1. (0,5 điểm) Văn bản trên được kể theo ngôi thứ mấy?

  1. Ngôi thứ nhất. B. Ngôi thứ hai            C. Ngôi thứ ba.          D. A và B đúng.

Câu 2. (0,5 điểm) Nội dung chính của văn bản trên là: Câu chuyện kể về cách cư xử của thằng bẻ con nhà giàu và hai đứa trẻ, tác giả ca ngợi tình anh em ruột thịt yêu thương, đùm bọc dù cuộc sống nghèo khổ. Đúng hay sai?

  1. Đúng. B. Sai.

Câu 3. (0,5 điểm) Trong câu văn Chính cái miệng háu đói của nó làm bánh rơi tõm xuống cống hôi hám, chìm hẳn. có những trợ từ nào?

  1. Miệng, bánh, cống.
  2. Chính, của, hẳn.
  3. Đói, rơi, chìm.
  4. Làm, xuống, chìm.

Câu 4. (0,5 điểm) Sự việc nào sau đây làm nổi bật ý nghĩa nhan đề của câu chuyện?

  1. Người phụ nữ sang trọng trong xe đang dỗ dành con.
  2. Thằng bé không muốn ăn lắc đầu nguầy nguậy, gạt mạnh tay.
  3. Đứa em sốt ruột cũng ghé miệng thổi tiếp miếng bánh trên tay anh.
  4. Người anh cho em liếm phần bánh kem trên tay nhiều hơn.

Câu 5. (0,5 điểm) Câu văn Bụi đời đã dính, chẳng chịu đi cho. thể hiện ý nghĩa ẩn dụ gì?

  1. Bụi bẩn đã dính vào bánh thì khó mà phủi, thổi đi hết.
  2. Dù cố gắng hết sức, hai anh em vẫn không thổi hết bụi.
  3. Hai anh em thổi chưa đồng tâm hiệp lực để làm sạch bụi bẩn.
  4. Những cơ cực, vất vả, và nghèo khổ cứ đeo bám mãi lấy hai anh em.

Câu 6. (0,5 điểm) Em hiểu nghĩa của từ “háu” là gì?

  1. Nôn nóng, sốt ruột.
  2. Mong muốn, thèm thuồng.
  3. Vội vàng, hấp tấp.
  4. Nhanh chóng, khẩn trương.

Câu 7. (0,5 điểm) Cốt truyện “Anh hai” trên được tổ chức theo cách nào sau đây?

  1. Truyện lồng trong truyện. C. Đối lập, tương phản.
  2. Đầu cuối tương ứng. D. Theo dòng cảm xúc của nhân vật.

Câu 8. (0,5 điểm) Câu nói của nhân vật người anh “Nhưng kem còn dính tay nè. Cho em ba ngón, anh chỉ liếm hai ngón thôi!” có tác dụng gì trong việc thể hiện nội dung chính của truyện?

  1. Cực tả sự hồn nhiên, nhanh trí của người anh.
  2. Cực tả sự đói khát, nghèo khổ của hai đứa bé.
  3. Cực tả những nghịch cảnh của đời sống.
  4. Cực tả sự yêu thương, nhường nhịn và hồn nhiên của nhân vật.

Câu 9. (1 điểm) Chỉ ra một thông điệp được gửi gắm qua câu chuyện trên.

Câu 10. (1 điểm) Tìm 2 câu ca dao, tục ngữ có nội dung khuyên nhủ về cách đối xử tình cảm giữa các anh chị em trong gia đình.

  1. PHẦN TỰ LUẬN

Em hãy viết một đoạn văn  trình bấy cảm nhận về bài thơ sau

THÁNG NĂM CỦA BÀ

Tháng năm có đàn chim ngói về ăn hạt trên cánh đồng bà ngoại

Trời thì xanh như không thể biếc hơn

Cháu đội nón đôi chân trần trên đất

Gặt về phơi cả ba tháng nhọc nhằn

 

Ba tháng nhọc nhằn nuôi mày lớn lúa ơi

Hoa cỏ may đan chéo bàn chân bà tứa máu

Mồ hôi xuống như mưa là tháng sáu

Lưng bà còng bông lúa trĩu như nhau

 

Bà ngoại trồng lúa, bà ngoại nhai trầu

Suốt một đời không đi ra ngoài mái đình bến nước.

Nỗi vất vả ấy lấy gì mà đo được

Như hạt thóc nảy mầm trổ bông

 

Tháng năm này cánh đồng bà có nhiều chim ngói không

Lưng bà mỗi ngày lại gần hơn mặt đất

Cháu mong lắm được trở về đi gặt

Phơi giúp bà hạt giống để mùa sau

                  (Bình Nguyên Trang, Chỉ em và chiếc bình pha lê biết, NXB Hội nhà văn, 2003, tr. 87, 88)

 

ĐỀ SỐ 7LL1

  Đọc ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

HÀNH TRANG LÊN ĐƯỜNG

Có một hòa thượng muốn đi học tập ở nơi xa. Sư thầy hỏi:

 – Khi nào con đi?

– Tuần sau con sẽ đi. Đường xa, con đã nhờ người đan vài đôi giày cỏ, sau khi lấy giày con sẽ lên đường.

Sư thầy trầm ngâm một lát rồi nói:

– Nếu không thì thế này, ta sẽ nhờ các tin chủng quyên tặng giày cho con.

 Không biết sư thầy đã nói với biết bao nhiêu người nhưng ngày hôm đó, có đến vài chục người đem giày đến tặng, chất đầy cả một góc căn phòng thiền. Sáng hôm sau, lại có người mang một chiếc ô đến tặng cho hòa thượng. Hòa thượng hỏi:

– Tại sao tín chủ lại tặng ô?

 – Sư thầy nói rằng hòa thượng chuẩn bị đi xa, trên đường có thể sẽ gặp mưa lớn, sư thầy nói với tôi liệu tôi có thể tặng hòa thượng một chiếc ô?

Thế nhưng hôm đó, không chỉ có người đó mang ô đến tặng. Đến buổi tối, trong phòng thiền đã chất khoảng 50 chiếc ô các loại. Giờ học buổi tối kết thúc, sư thầy bước vào phòng thiền của hòa thượng:

– Giày cỏ và ô đã đủ chưa?

– Đủ rồi ạ! – Hòa thượng chỉ vào đống ô và giày cỏ chất cao như ngọn núi nhỏ trong góc phòng. – Nhiều quá rồi thầy ạ, con không thể mang tất cả đi được.

Sư thầy nói:

– Vậy sao được. Trời có lúc mưa lúc nắng, có ai tiên liệu được con sẽ phải đi bao xa, phải dầm bao nhiêu lần mưa gió. Nhỡ đâu giày cỏ đi rách hết cả, ô cũng mất, lúc đó con phải làm sao ?

Ngừng một lát ông lại tiếp tục:

– Trên đường đi ,  chắc chắn con sẽ gặp không ít sông suối, mai ta sẽ có lời nhờ tín chúng quyên thuyền, con hay mang theo…

Đến lúc này vị hòa thượng mới hiểu ra ý đồ của sư phụ. Hòa thượng quỳ rạp xuống đất, nói:

– Đệ tử sẽ xuất phát  ngay bây giờ và sẽ không mang theo bất cứ thứ gì ạ

 (Theo bảo điện tử https://toancanh60s.com/ )

  1. PHẦN TRẮC NGHIỆM

 Câu 1. (0,5 điểm) Phương thức biểu đạt của văn bản trên là gì?

  1. Tự sự B. Miêu tả. C. Biểu cảm.                     D. Nghị luận.

Câu 2. (0,5 điểm) Sư thầy đã làm gì để giúp chú tiểu có được “hành trang lên đường”

  1. Chuẩn bị mọi thứ cần thiết về vật chất cho chú tiểu.
  2. Sư thầy nhờ tín chúng quyên giày, ô, thuyền cho chú tiểu.
  3. Chuẩn bị tiền bạc cho chú tiểu.
  4. Sư thầy không làm gì cả. LL1

Câu 3. (0,5 điểm) Nhân vật chính trong câu chuyện là ai?

  1. Sư thầy. B. Chú tiểu. C. Không có ai.                  D. Cả sư thầy và chú tiểu.

Câu 4. (0,5 điểm) Câu chuyện kể về việc gì?

  1. Chú tiểu chuẩn bị hành trang để đi học.
  2. Sư thầy quyên góp đồ cho nhà chùa.
  3. Chú tiểu chuẩn bị chu đáo cho chuyến đi xa.
  4. Sư thầy chuẩn bị mọi thứ cho chú tiểu.

Câu 5. (0,5 điểm) Mục đích của sư thầy khi quyên đồ dùng cho chú tiểu là gì?

  1. Để học trò có đủ đồ dùng khi đi học.
  2. Sư thầy dạy học trò bài học cuộc sống thông qua những sự việc đời thường.
  3. Để chú tiểu không phải lo lắng.
  4. Để sư thầy yên tâm khi học trò đi xa.

Câu 6. (0,5 điểm) Nghĩa của từ “ hành trang” được hiểu như thế nào?

  1. Đồ dùng mang theo và các thứ trang bị khi đi xa.
  2. Đồ dùng cần thiết khi đi xa.
  3. Đồ dùng không thể thiếu khi đi xa.
  4. Các thứ trang bị khi đi xa.

Câu 7. (0,5 điểm) Tại sao “Chú tiểu quyết định không mang theo bất cứ thứ gì”?

  1. Vì mọi thứ cồng kềnh.
  2. Vì nhiều quá không mang đi hết.
  3. Vì chú tiểu không biết phải mang đi như thế nào.
  4. Vì chú tiểu ngộ ra rằng “Tất cả những vật dụng dụng đó chưa phải là điều cần thiết nhất trong hành trang lên đường của mình”.

Câu 8. (0,5 điểm) Chi tiết “chú tiểu vội vã lên đường” thể hiện điều gì?

  1. Thể hiện sự quyết tâm đi học của chú tiểu.
  2. Thể hiện sự chạy trốn khỏi sư thầy của chú tiểu.
  3. Thể hiện sự nghe lời sư thầy của chú tiểu.
  4. Thể hiện mong muốn rời khỏi chùa của chú tiểu.

Câu 9. (1 điểm) Em hiểu thế nào về những hành động của sư thầy?

Câu 10. (1 điểm) Câu chuyện giúp em nhận ra điều gì?

  1. PHẦN TỰ LUẬN

 Em hãy viết một đoạn văn phát biểu cảm nghĩ của mình về bài thơ sau:

Lạy trước Đền Hùng LL1

Con là đứa trẻ sau bốn ngàn năm

Ngước nhìn lên tổ tiên cao vời vợi

Đền Hùng – ngày con về nguồn cội

Dưới bóng cây già nước mắt chợt rơi

 

Ơi Vua Cha nhân hậu ngàn đời

Sao đất nước lâm nguy bao lần giặc giã

Trống đồng thiêng in chiến thuyền lấp loá

Mũi tên oai hùng lớp lớp vút bay

 

Đứng trước Đền Hùng thấp nên nhang cay

Thương đất nước can trường trăm ngàn trận mạc

Mỗi phận người cũng lấm lem bùn đất

Hạt lúa, củ khoai mưa nắng dãi dầu

 

Đã qua rồi bao mất mát khổ đau

 Đền Hùng con về miền trung du xanh mát

Nghĩa Lĩnh trời mây dịu lành trong nắng sớm

Soi bóng mình Giếng Ngọc phút thiêng liêng

 

Tưởng chạm rồi hạnh ngộ bóng tiền nhân

Thuở vua cấy, dân cày đồng xanh bát ngát

Gặp Thánh Gióng oai hùng phi ngựa sắt

Ngọn lửa thiêng thắp sáng nước non nhà

 

Con ngước nhìn lên hương khói nhạt nhòa

Nghe lòng mắt cay cay niềm rung cảm

Bầu trời cao thiêng liêng đàn chim Lạc

Lại bay về ngự đỉnh sáng mai nay.

(Lê Thi)

 

Đề số 13

I.Phần đọc hiểu:

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

HẠT GIỐNG ƯỚC VỌNG

          Có hai đứa trẻ đều mang trong mình những ước vọng đẹp đẽ và luôn băn khoăn: “Làm sao để những ước vọng trở thành hiện thực”?

          Đem trăn trở đó, chúng tìm đến một cụ già trong làng xin lời khuyên. Cụ già cho mỗi đứa trẻ một hạt giống và dặn:

“Các con hãy tìm ra cách bảo quản hạt giống tốt nhất, đó chính là câu trả lời”.

          Một thời gian sau, cụ già hỏi hai đứa trẻ về cách bảo quản hai hạt giống. Đứa trẻ thứ nhất mang ra một chiếc hộp được cuốn bằng dây lụa, và nói:            

– “Cháu đặt hạt giống trong chiếc hộp, suốt ngày giữ nó”. Nói rồi lấy hạt giống ra cho cụ già xem, hạt giống vẫn nguyên vẹn như trước.

          Đứa trẻ thứ hai mặt mũi rám nắng, hai tay nổi chai. Nó chỉ ra cánh đồng mênh mông lúa vàng, phấn khởi nói:

          – Cháu đem hạt giống trồng xuống đất, mỗi ngày lo tưới nước, bón phân, diệt cỏ…, tới nay nó đã kết hạt mới đầy đồng.

          Cụ già nghe xong, mỉm cười tỏ ý hài lòng.

                        (Theo Hạt giống tâm hồn, NXB Tổng hợp, thành phố Hồ chí Minh)

Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích?

  1. Tự sự B. Miêu tả C. Nghị luận            D. Thuyết minh

Câu 2. Hai đứa trẻ đã đến hỏi ai để được giải đáp băn khoăn của chúng

  1. Nhà thông thái Bà lão bán nước
  2. Cụ già trong làng                                   Chàng trai trẻ

Câu 3. Đứa trẻ thứ nhất đã bảo quản hạt giống như thế nào?

  1. Cất vào trong chum Mang ra gieo trồng, chăm sóc mỗi ngày
  2. Để xuống gầm giường Đặt vào chiếc hộp và giữ chặt nó                    

Câu 4. Đứa trẻ  thứ hai đã làm gì với hạt giống?

  1. Bỏ ra góc vườn Mang ra gieo trồng, chăm sóc mỗi ngày
  2. Đặt vào chiếc hộp Gói kĩ trong tờ giấy.

Câu 5.  Xét theo mục đích nói,câu “Làm sao để những ước vọng trở thành hiện thực?”thuộc kiểu câu gì?

  1. Câu trần thuật Câu cảm thán
  2. Câu cầu khiến Câu nghi vấn

Câu 6. Ý nghĩa của hình ảnh hạt giống trong văn bản?

  1. Có ước mơ, biết nuôi dưỡng ước mơ, khát khao và không ngừng cố gắng, khổ luyện để đạt được ước mơ ấy
  2. Là hạt giống để gieo trồng cho vụ sau mùa màng bội thu.
  3. Luôn nuôi dưỡng khát vọng lên đường
  4. Sự rèn luyện không mệt mỏi

Câu 7. Dấu ba chấm trong câu “ Cháu đem hạt giống trồng xuống đất, mỗi ngày lo tưới nước, bón phân, diệt cỏ…, tới nay nó đã kết hạt mới đầy đồng” dùng để làm gì?

  1. Báo hiệu còn nhiều thông tin mà người viết chưa liệt kê hết
  2. Diễn tả lời nói, cảm xúc ngập ngừng, bỡ ngỡ, đứt quãng.
  3. Tăng sự kịch tính, hài hước.
  4. Làm giảm nhịp điệu câu văn, lời nói nào đó.

Câu 8. Hình ảnh “Đứa trẻ thứ hai mặt mũi xám nắng, hai bàn tay nổi chai” tượng trưng cho điều gì?

  1. Những vất vả của người nông dân khi gieo trồng chăm sóc hoa màu.
  2. Sự nỗ lực, vất vả, cố gắng hết mình để đạt được mục tiêu. Chỉ khi dùng mồ hôi, sức lực, tưới tắm vun trồng thì hạt giống mới có thể đơm hoa kết trái, mùa màng bội thu.
  3. Nỗi khổ khi con người phải làm việc nặng nhọc.
  4. Chỉ có có làm việc mới thu được thành quả.

Câu 9. Thông điệp mà câu chuyện truyền tải đến bạn đọc là gì?

Câu 10. Từ nội dung phần đọc hiểu, hãy viết đoạn văn ( khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về câu nói “Ước vọng cũng như hạt giống. Chỉ biết khư khư giữ lấy nó thì chẳng có thể lớn lên được”

  1. Phần viết:

                          Phân tích truyện ngắn  BỐN NGÓN TAY

Lúc mới sinh ra, cậu bé đã bị mù. Khi cậu lên 6, một việc xảy ra làm em không tự giải thích được. Buổi chiều nọ, em đang chơi đùa cùng các bạn, một cậu bé khác đã ném trái banh về phía em. Chợt nhớ ra cậu bé la lên:
– Coi chừng ! Quả banh sắp văng trúng đấy.
Quả banh đã đập trúng người cậu, và cuộc sống của cậu không như trước đây nữa. Cậu bé không bị đau, nhưng cậu thật sự băn khoăn.
Cậu quyết định hỏi mẹ:
– Làm sao cậu ta biết điều gì sắp xảy ra cho con trước khi chính con nhận biết được điều đó ?

Mẹ cậu thở dài, bởi cái giây phút bà e ngại đã đến! Đã đến cái thời khắc đầu tiên mà bà cần nói rõ cho con trai mình biết: “Con bị mù!”.
Rất dịu dàng bà cầm bàn tay của con, vừa nắm từng ngón tay và đếm:
– Một – hai – ba – bốn – năm. Các ngón tay này tựa như năm giác quan của con vậy. Ngón tay bé nhỏ này là nghe, ngón tay xinh xắn này là sờ chạm, ngón tay tí hon này là ngửi, còn ngón bé tí này là nếm. ..”.
Ngần ngừ một lúc, bà tiếp:
-. ..Còn ngón tay tí xíu này là nhìn. Mỗi giác quan của con như mỗi ngón tay, chúng chuyên chở bức thông điệp lên bộ não con”.
Rồi bà gập ngón tay bà đặt tên “nhìn”, khép chặt nó vào lòng bàn tay của con, bà nói:
– Con ạ! Con là một đứa trẻ khác với những đứa khác, vì con chỉ có bốn giác quan, như là chỉ có bốn ngón tay vậy: một – nghe, hai – sờ, ba – ngửi, bốn – nếm. Con không thể sử dụng giác quan nhìn. Bây giờ mẹ muốn chỉ cho con điều này. Hãy đứng lên con nhé.
Cậu đứng lên. Bà mẹ nhặt trái banh lên bảo:
– Bây giờ con hãy đặt bàn tay của con trong tư thế bắt trái banh.
Cậu mở lòng bàn tay và trong khoảnh khắc cậu cảm nhận được quả banh cứng chạm vào các ngón tay của mình. Cậu bấu chặt quả banh và giơ lên cao.
– Giỏi ! Giỏi ! – Bà mẹ nói – Mẹ muốn con không bao giờ quên điều con vừa làm. Con cũng có thể giơ cao quả banh bằng bốn ngón tay thay vì năm ngón. Con cũng có thể có và giữ được một cuộc sống trọn vẹn và hạnh phúc với chỉ bốn giác quan thay vì năm nếu con bước vào cuộc sống bằng sự nỗ lực thường xuyên!
Cậu bé không bao giờ quên hình ảnh “bốn ngón tay thay vì năm”. Đối với cậu đó là biểu tượng của niềm hy vọng. Và hễ cứ mỗi khi nhụt chí vì sự khiếm khuyết của mình, cậu lại nhớ đến biểu tượng này để động viên mình. Cậu hiểu ra rằng mẹ cậu đã nói rất đúng. Cậu vẫn có thể tạo được một cuộc sống trọn vẹn và giữ lấy nó chỉ với bốn giác quan mà cậu có được.

 

Đề số 8

Phần 1. Đọc – hiểu:

Đọc đoạn văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

“Hòn đá có thể cho lửa, cành cây có thể cho lửa. Nhưng chỉ có con người mới biết nuôi lửa và truyền lửa. Lửa xuất hiện khi có tương tác, ít ra là hai vật thể tạo lửa. Lửa là kết quả của số nhiều. Cô bé bán diêm là số đơn. Cô đã chết vì thiếu lửa. Để rồi từ đó loài người đã cảnh giác thắp nến suốt mùa Giáng sinh để cho không còn em bé bán diêm nào phải chết vì thiếu lửa.

Nước Việt hình chữ “S”, hiện thân của số nhiều, lẽ nào không biết nuôi lửa và truyền lửa, lẽ nào thiếu lửa? Không có lửa, con rồng chẳng phải là rồng, chỉ là con giun, con rắn. Không có lửa làm gì có “nồng” nàn, “nhiệt” tâm! Làm gì có “sốt” sắng, “nhiệt” tình, đuốc tuệ! Làm gì còn “nhiệt” huyết, “cháy” bỏng! Sẽ đâu rồi “lửa” yêu thương? Việc mẹ cha, việc nhà, việc nước, làm gì với đôi vai lạnh lẽo, ơ hờ? Không có lửa em lấy gì “hun” đúc ý chí, “nấu” sử sôi kinh? Em… sống đời thực vật vô tri như lưng cây, mắt lá, đầu cành, thân cỏ…. Cho nên: Biết ủ lửa để giữ nhân cách – người, nhân cách – Việt. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội. Thế nhưng: Nếu không có lửa làm sao thành mùa xuân?”.

                                   (Trích Thắp mình để sang xuân, Nhà văn Đoàn Công Lê Huy)
Câu 1.Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn văn bản trên?

A.Miêu tả                 B. Nghị luận                    C. Tự sự.               D. Biểu cảm

Câu 2. Trong văn bản, tác giả đã nhắc đến câu chuyện nào của nhà văn Andecxen?

  1. Nàng tiên cá C. Cô bé bán diêm
  2. Chú lính chì dũng cảm. D. Nàng công chúa và hạt đậu

Câu 3: Câu “Nước Việt hình chữ “S”, hiện thân của số nhiều, lẽ nào không biết nuôi lửa và truyền lửa, lẽ nào thiếu lửa?” là câu hỏi tu từ đúng hay sai?

  1. Đúng B. sai

Câu 4. Dấu ngoặc kép trong câu “Không có lửa em lấy gì “hun” đúc ý chí, “nấu” sử sôi kinh?” dùng để làm gì?

  1. Đánh dấu bộ phận chú thích
  2. Đánh dấu từ ngữ có ý nghĩa hài hước.
  3. Dẫn lời nói trực tiếp của nhân vật. 

D.Đánh dấu những từ ngữ được dùng với ý nghĩa đặc biệt.

Câu 5. Theo tác giả, chỉ có đối tượng nào mới có thể nuôi lửa, truyền lửa?

  1. Hòn đá C. Con người
  2. Cành cây D. Sao trời

Câu 6. Em hiểu nghĩa của cụm từ “ Biết ủ lửa” trong câu: “Biết ủ lửa để giữ nhân cách – người, nhân cách – Việt”như thế nào ?

  1. Biết nhen nhóm, nuôi dưỡng lửa trong tâm hồn mình – ngọn lửa của đam mê,

khát vọng, của niềm tin, ý chí, nghị lực vươn lên trong cuộc sống, ngọn lửa của tình yêu thương.

  1. Biết nuôi dưỡng lửa trong tâm hồn mình.
  2. Biết giữ cho ngọn lửa không tắt.
  3. Biết làm ấm nóng cuộc sống bằng ngọn lửa thực từ bếp củi, bếp ga.

Câu 7: Thông điệp ý nghĩa nhất em rút ra từ đoạn trích văn bản trên là gì?

  1. Cuộc sống con người cần nhiều yếu tố trong đó có lửa.
  2. Không có lửa cuộc sống con người chỉ còn là sự tồn tại.
  3. Cần có ước mơ, hoài bão.
  4. Biết nhìn nhận vấn đề đa chiều.

Câu 8. Em hiểu câu“Biết ủ lửa để giữ nhân cách – người, nhân cách Việt”như thế nào?

  1. Có ngọn lửa đam mê, khát vọng, dám sống hết mình, dám theo đuổi ước mơ,

hoài bão bằng ý chí nghị lực,vượt qua khó khăn trở ngại, có ngọn lửa của tình yêu thương, nhân ái. Ngọn lửa ấy giúp ta làm nên giá trị nhân cách con người.

  1. Có ngọn lửa đam mê, khát vọng mới dám sống hết mình, dám theo đuổi ước

mơ, hoài bão. Có ngọn lửa của ý chí nghị lực sẽ có sức mạnh để vượt qua khó khăn trở ngại, đến được cái đích mà mình mong muốn.

  1. Có ngọn lửa của ý chí nghị lực sẽ có sức mạnh để vượt qua khó khăn trở ngại,

đến được cái đích mà mình mong muốn.

  1. Có ngọn lửa của tình yêu thương sẽ sống nhân ái, nhân văn hơn, sẵn sàng hi

sinh vì người khác. Ngọn lửa ấy giúp ta làm nên giá trị nhân cách con người.

Câu 9. Chỉ ra và phân tích giá trị biểu đạt của biện pháp tu từ nổi bật trong hai câu văn sau: “Hòn đá có thể cho lửa, cành cây có thể cho lửa. Nhưng chỉ có con người mới biết nuôi lửa và truyền lửa”.

Câu 10.Viết đoạn văn ( khoảng 200 chữ)  trình bày suy nghĩ của anh / chị  về ý kiến nêu ở phần đọc – hiểu : “Nếu không có lửa làm sao thành mùa xuân?”?

 

  1. Phần viết:

Phân tích truyện ngắn  NGƯỜI THẦY VÀ NHỮNG TỜ TIỀN CŨ

Cuối cùng nó cũng đậu đại học. Người đầu tiên nó muốn thông báo tin quan trọng ấy không phải là ba hay mẹ nó mà là người thầy kính yêu của nó…

Nhà nó nghèo, lại đông anh em, quê nó cũng nghèo nên từ lâu chẳng có mấy ai dám nghĩ đến chuyện cho con vào đại học. Ba mẹ nó cũng vậy, phần vì quá nghèo, phần là vì nghĩ đến điều kiện của con mình “làm sao mà chọi với người ta”!… Thầy là người duy nhất ủng hộ nó, cho nó niềm tin rằng “mình có thể”.
Vui mừng chẳng được bao lâu, bao nhiêu lo lắng tràn về vây lấy nó… Năm năm trời, hàng trăm thứ tiền như bầy ong vo ve trong đầu nó.
Rồi thầy đến mang cho nó một lô sách, vở mà nó đoán là những bài học “nhân-lễ-nghĩa” của thầy, dúi vào tay nó một gói nhỏ mà thầy bảo là “bí kíp” rồi dặn chỉ lúc nào khó khăn nhất mới được mở ra. Nó đã không “cảnh giác” thừa. Gói “bí kíp” mà lúc nhận từ tay thầy nó đã ngờ ngợ là một xấp những tờ tiền 10.000đ bọc trong hai lớp nilon cũ kỹ, những tờ tiền được vuốt phẳng phiu phần nhiều đã nhàu nát mà nó tin rằng thầy đã để dành từ lâu lắm! 900.000đồng, nó cứ mân mê những đồng 10.000 đã cũ mà thèm một góc không có ai để khóc.
Đã hai năm kể từ cái ngày thầy lặn lội lên Sài Gòn thăm nó, dúi vào tay nó những đồng 10.000 nhọc nhằn rồi lại vội vã trở về. Sau đó thầy chuyển công tác. Hai năm, thỉnh thoảng nó vẫn nhận được những đồng 10.000 của thầy (lạ thay, lại vào những lúc tưởng chừng như nó bế tắc nhất!)… Hai năm, nó vẫn chưa một lần về thăm thầy. Trưa, mới đi học về, mẹ điện lên báo: “Thầy H. mất rồi!”. Nó chỉ lắp bắp hỏi được ba chữ: “Sao thầy mất?”, rồi sụp xuống khi mẹ cũng nghèn nghẹn ở đầu dây bên kia: “Thầy bệnh lâu rồi mà không ai biết. Ngày đưa thầy vào viện, bác sĩ chụp hình mới biết thầy đã hư hết lục phủ ngũ tạng rồi, chưa ai kịp đi thăm thì thầy đã…”.
Nó bỏ hết mọi sự leo lên xe đò. Trong cái nóng ban trưa hầm hập với cơn say xe mệt mỏi, nó thấy thầy hiền hậu đến bên nó, dúi vào đôi tay nóng hổi của nó những tờ 10.000 đồng lấp lánh… Đến bây giờ nó mới để ý thấy thầy đã xanh xao lắm, bàn tay tài hoa khéo léo ngày xưa đã gân guốc lên nhiều lắm… Nó chợt tỉnh, nước mắt lại lăn dài trên má, trái tim nó gào lên nức nở: “Thầy ơi… sao không đợi con về…!?”. Vì nó cứ đinh ninh: nếu đổi những đồng 10.000 kia thành thuốc, thầy sẽ sống cho đến khi nó kịp trở về…

 

Đề số

Phần I. Đọc – hiểu (10.0 điểm) 

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

​​​​​                  MẸ (Viễn Phương)

​​​Con nhớ ngày xưa mẹ hát

​​​Hoa sen lặng lẽ dưới đầm

​​​Hương hoa dịu dàng bát ngát

​​​Thơm tho không gian thời gian

 

​​​Mẹ nghèo như đóa hoa sen

​​​Tháng năm âm thầm lặng lẽ

​​​Giọt máu hòa theo dòng lệ

​​​Hương đời mẹ ướp cho con

 

​​​Khi con thành đóa hoa thơm

​​​Đời mẹ lắt lay chiếc bóng

​​​Con đi…chân trời gió lộng

​​​Mẹ về…nắng quái chiều hôm

 

​​​Sen đã tàn sau mùa hạ

​​​Mẹ cũng lìa xa cõi đời

​​​Sen tàn rồi sen lại nở

​​​Mẹ thành ngôi sao trên trời

Câu 1.Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên?

  1. Tự sự C. Biểu cảm
  2. Nghị luận D. Thuyết minh

Câu 2. Bài thơ được viết theo thể thơ nào?

  1. Sáu chữ C. Năm chữ
  2. Lục bát                                                               D. Bảy chữ

Câu 3. Dấu chấm lửng trong hai câu thơ “ Con đi…chân trời gió lộng/ Mẹ về…nắng quái chiều hôm” dùng để làm gì?

  1. Diễn tả lời nói, cảm xúc ngập ngừng, xúc động.
  2. Tăng sự kịch tính, hài hước cho câu chuyện.
  3. Làm giãn nhịp điệu câu thơ.
  4. Dùng thay cho câu trả lời

Câu 4.Câu thơ “Mẹ nghèo như đóa hoa sen” sử dụng biện pháp tu từ nào?

  1. Nhân hoá C. Điệp ngữ
  2. So sánh D. Ẩn dụ

Câu 5. Xét theo mục đích nói, câu thơ “ Con nhớ ngày xưa mẹ hát” thuộc kiểu câu gì?

  1. Câu cầu khiến B. Câu trần thuật
  2. Câu cảm D. Câu nghi vấn

Câu 6. Em hiểu nghĩa của cụm từ “ lìa xa cõi đời” trong câu thơ “ Mẹ cũng lìa xa cõi đời” như thế nào?

  1. Mẹ đã già C. Mẹ bị ốm
  2. Mẹ đã mất D. Mẹ mệt mỏi

Câu 7. Em hiểu câu thơ: “Hương đời mẹ ướp cho con” như thế nào?

  1. Lòng biết ơn của con trước sự tảo tần, hy sinh thầm lặng của mẹ.
  2. Mẹ tuy nghèo khó nhưng vẫn âm thầmchắt chiu những gì đẹp đẽ nhất, tinh

túy nhất để dành trọn cho con. Đồng thời thể hiện lòng biết ơn của con trước sự tảo tần, hy sinh thầm lặng của mẹ.

  1. Mẹ tuy nghèo khó nhưng vẫn âm thầmchắt chiu những gì đẹp đẽ nhất, tinh

túy nhất để dành trọn cho con.

  1. Ca ngợi sự hi sinh thầm lặng của mẹ.

Câu 8. Cảm nhận về hình ảnh người mẹ trong khổ cuối bài thơ ?

  1. Người mẹ nghèo khó, vất vả, cả cuộc đời lam lũ nhưng vẫn thanh cao, hi sinh

thầm lặng vì các con.

  1. Tuy mẹ đã mất nhưng vẻ đẹp tâm hồn của mẹ mãi ngời sáng trong lòng thương

yêu, kính trọng, biết ơn của người con.

  1. Người mẹ sống với tuổi già cô đơn, già nua, mong manh nhưng đã đem đến

cho con tương lai tươi sáng từ sự vất vả của bản thân

  1. Những vất vả, lam lũ của cuộc đời và những vẻ đẹp trong tâm hồn người mẹ

làm xúc động lòng người, gợi mỗi người nhớ về đấng sinh thành của mình…

Câu 9. Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ ẩn dụ, tương phản trong khổ thơ thứ ba?

Câu 10.Từ văn bản phần đọc hiểu, em hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ), bàn về  ý kiến sau: Sứ mạng của người mẹ không phải là làm chỗ dựa cho con cái mà là làm cho chỗ dựa ấy trở nên không cần thiết (B. Babbles).

PHẦN II . VIÉT

  1. Viết đoạn văn ghi lại cảm xúc về bài thơ trên

 

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)

        Đọc văn bản sau

BẪY CÒ

           (Lược trích: Hè năm nhân vật “tôi” mười hai tuổi, tôi đã rủ em gái hai tuổi là bé Vin làm bẫy để bẫy cò. Vin muốn anh bắt sống cho mình một con cò vàng để về nuôi. Đến ngày thứ ba, chiếc bẫy cò đã hoàn thành. Hai anh em rủ nhau ra đồng đặt bẫy).

           Tôi đã chọn được chỗ cắm bẫy. Xong đâu đấy cả tôi và bé Vin cùng thở phào…

           Tôi kéo bé Vin về phía gò đất, chui vào tán cây duối dại, quan sát đàn cò. Trống ngực bé Vin đập thình thịch khi mấy chú cò lò dò về phía chiếc bẫy. Chợt một con nghển cổ, bước nhanh lên trước nhưng khi cách con mồi một tầm mỏ thì nó dừng lại. Nó nghi hoặc nghe ngóng rồi lảng ra xa. (…)

                     Tôi và bé Vin vẫn áp sát xuống đất mặc dù quanh chiếc bẫy vắng tanh vắng ngắt. Đàn cò trắng ăn no đang rủ nhau tắm. Trời về chiều nhưng vẫn hầm hập hơi nóng bốc lên từ mặt ruộng. Bé Vin thấm mệt, mặt đỏ lừ. Đúng lúc tôi quyết định tháo bẫy thì trên trời sà xuống hai mẹ con nhà Cò Bợ. Giống Cò Bợ vốn thật thà thô kệch chứ không lịch lãm, tinh ranh như họ hàng cò trắng. Vừa thoáng thấy con cá cờ, mẹ con Cò Bợ đã mừng rú. Cò Bợ con lao vụt lên trước, gần như nhảy vào giữa vòng thòng lọng. Vút! Chiếc cần tre bật nhẹ cùng tiếng reo của tôi và bé Vin:

– Sập bẫy rồi!

        Tôi nắm tay bé Vin chạy thục mạng về phía con vật đang vỗ cánh bành bạch. Cả đàn cò trắng bay vùng lên, kêu náo loạn. Cò Bợ mẹ bay thấp hơn, đau đớn gào to: “Cứu con tôi với!…”. Trong khi đó Cò Bợ con bị sợi cước thít vào cổ giẫy giụa tuyệt vọng. Thấy chúng tôi, nó vùng bay lên và ngay lập tức lại rơi bịch xuống, toàn thân bê bết bùn. Nhìn cảnh đó bé Vin bỗng tái mặt, đầu gối díu vào nhau. Tôi đành vào tháo bẫy một mình. Tiếng con cò mẹ càng gào thảm thiết. Cò Bợ con chừng đã mệt, hai cánh áp xuống đất, mắt lóe lên như hai giọt nước, sợ run cầm cập. Đến lượt chân tôi muốn khuỵu xuống. Tôi thấy rõ tiếng van xin của Bợ con: “Tôi van cậu! Cậu cũng là trẻ con, cũng có lúc dại dột. Tôi xin cậu”. Chắc nó đang nghĩ đến mẹ nó. Đêm nay mẹ nó sẽ khóc hết nước mắt. Rồi chỉ vài hôm nữa thế nào cũng thấy xác một con Cò Bợ mẹ chết ủ rũ vì mất con. Tôi không kịp nghĩ gì cả, ngồi thụp xuống, gỡ nút thòng lọng rồi ôm con vật tung bổng lên trời. Thoạt đầu Bợ con loạng quạng bay như diều đứt dây. Lát sau nó lấy lại được tư thế và hai mẹ con nó dìu nhau bay về phía làng.

           Cả tôi và bé Vin đều ngửa cổ nhìn theo cho đến khi đàn cò chỉ còn lại như những chấm đen in lên hoàng hôn đỏ rực.

                     Bé Vin, mặt vẫn tái mét, im lặng bước theo tôi. Bỗng nó ngồi thụp xuống, khóc òa lên. Tôi phải dỗ nó:

– Vin giận anh à?

Nó nói trong tiếng nức nở:

– Con cò… sẽ gẫy cổ mất… Thế nào mẹ nó cũng đánh nó vì tội dại dột… ấc! Hấc…

          Tôi phải cam đoan với bé Vin con cò chỉ hơi đau, nó mới chịu nín. Nó bám tay áo tôi, vừa đi vừa quệt nước mắt. Từ hôm sau, cứ chiều đến, chúng tôi tìm một bãi cò nằm chờ từng đàn chim trở về. Thỉnh thoảng bé Vin lại đứng ngẩn người, lo lắng nhìn hút theo một con chim lạc bầy, vừa chấp chới bay vừa kêu thảm thiết.

           (Trích “65 truyện ngắn hay dành cho thiếu nhi”, Tạ Duy Anh*, NXB Kim Đồng, 2022, tr 260-264)

* Tạ Duy Anh sinh năm 1959, quê ở Chương Mĩ, Hà Tây (nay thuộc Hà Nội). Là

cây bút trẻ trong thời kì đổi mới. Ông có sở trường viết về tuổi thơ và truyện dành cho thiếu nhi.

           Hãy ghi vào bài làm chữ cái đứng trước phương án trả lời đúng từ câu 1 đến câu 6

Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?

A. Truyện ngụ ngôn B. Truyện ngắn
C. Truyện lịch sử D. Truyện cười

Câu 2. Văn bản trên được kể chủ yếu theo ngôi kể nào?

A. Ngôi thứ nhất B. Ngôi thứ nhất số nhiều
C. Ngôi thứ ba D. Ngôi thứ hai

Câu 3. Trong những câu văn sau, câu nào là lời của người kể chuyện?

  1. “Cứu con tôi với!”
  2. – Con cò… sẽ gẫy cổ mất… Thế nào mẹ nó cũng đánh nó vì tội dại dột… hấc! Hấc…
  3. “Tôi van cậu! Cậu cũng là trẻ con, cũng có lúc dại dột. Tôi xin cậu.”
  4. Trời về chiều nhưng vẫn hầm hập hơi nóng bốc lên từ mặt ruộng.

Câu 4. Trong văn bản, bé Vin “ngồi thụp xuống, khóc òa lên” vì điều gì?

  1. Vì anh trai đã không bắt được con cò mỏ vàng như lời hứa
  2. Vì anh trai thả cho cò Bợ con bay đi
  3. Vì thương và lo cho cò Bợ con có thể bị gẫy cổ và bị mẹ đánh
  4. Vì trời nắng nóng, em đã quá mệt mỏi

Câu 5. Phần in đậm trong câu văn “Chắc nó đang nghĩ đến mẹ nó?” là thành phần biệt lập nào?

A. Thành phần tình thái B. Thành phần cảm thán
C. Thành phần gọi đáp D. Thành phần phụ chú

 Câu 6. Nhận xét nào nêu đầy đủ nhất về chủ đề của văn bản trên?

  1. Văn bản ca ngợi tình cảm anh em thân thiết, yêu thương, đoàn kết
  2. Văn bản ca ngợi lòng yêu thương loài vật, tình mẫu tử thiêng liêng, tình anh em thân thiết
  3. Văn bản ca ngợi lòng dũng cảm, sự thông minh nhanh trí của con người
  4. Văn bản ca ngợi tình yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau của loài vật

         Viết câu trả lời cho các câu hỏi sau vào bài làm

Câu 7 (1,0 điểm). Theo em, vì sao nhân vật “tôi” lại thả con cò Bợ con bay về với bầu trời?

Câu 8 (1,0 điểm). Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp nhân hoá trong câu văn sau: “Cò Bợ mẹ bay thấp hơn, đau đớn gào to: “Cứu con tôi với!…”.”

Câu 9 (1,0 điểm). Em hãy chia sẻ những việc làm thiết thực của bản thân để góp phần bảo vệ thiên nhiên.

PHẦN II. VIẾT (4.0 điểm) Em hãy viết bài văn phân tích tác phẩm “Bẫy cò” của Tạ Duy Anh.

Người Thầy đặc biệt

10 tuổi, lần đầu tiên chúng tôi được học tiếng Anh, nhưng không phải học ở trường mà phải đạp xe hơn 3km sang nhà thầy giáo ở làng bên để học. Trong căn nhà cấp 4 nhỏ bên bờ đê lộng gió, một thầy giáo và 4 học trò ríu rít với những bài học tiếng anh vỡ lòng. Mỗi buổi học thêm tiếng Anh khi đó chỉ có 500 đồng, cách đây 12 năm về trước. Khi đó bốn đứa chúng tôi chỉ biết học, không quan tâm 500 đồng là đắt hay rẻ cho một buổi học tiếng Anh vỡ lòng. Thầy là một người thầy đặc biệt cùng lớp học đặc biệt và một căn nhà cũng đặc biệt. Ngôi nhà chỉ có một gian thấp bé được xây hoàn toàn bằng xi măng. Đến những cái bàn và giường ngủ cũng được làm từ xi măng. Từ xa, ngôi nhà trông như một chuồng chim bồ câu bám trên bờ đập. Thầy viết trên một tấm bảng đen nhỏ treo trên tường, trò ngồi bàn xếp, khoanh chân trên tấm phản xây bằng xi măng. Những câu hello, goodbye… thầy vừa dạy viết vừa dạy đọc. Thầy đứng xoay ngang khuôn mặt, miệng mở rộng, lưỡi chuyển động thật chậm để chúng tôi tập đọc theo cho đúng.

Tôi nhớ còn nhớ câu chuyện thầy kể về một nước Nga xa xôi, nơi mà thầy đã từng theo học, nơi có một người con gái thầy đã yêu và đã rời xa. Thầy kể cho chúng tôi nghe về một thời trai trẻ nhiều ước mơ nơi xứ tuyết… Trong câu chuyện đó có cái gì đó đã đổ vỡ, đã chia lìa và giờ thầy ở đây, trước mặt chúng tôi…Thầy sống lầm lũi và hơi lập dị trong mắt người làng. Đuôi mắt nhiều nếp nhăn của thầy hay nheo lại, nhìn về nơi nào đó xa thẳm. Thầy có nụ cười thật lạ, trước mặt chúng tôi thì vô cùng ấm áp, quay đi là ngay lập tức nhếch lên khó hiểu khiến tôi thấy hay hay và chỉ thích nhìn thầy cười.

Cũng như bao người nông dân khác, thầy cũng trồng lúa, đặt rớ tôm (vó tôm) để có tiền trang trải cho cuộc sống. Triền đập thoai thoải thầy đặt bao nhiêu là rớ. Tép cất được, thầy vừa ăn, vừa bán, con nào nhỉnh hơn thầy bỏ vào cái bể cũng được xây bằng xi măng để nuôi cho lớn.Mỗi ngày tới học, chúng tôi hay vào bể tôm của thầy chơi, té nước khiến cho những con tôm nhảy lên loạn xạ. Lúc đó thầy liền rối rít la chúng tôi. Nhưng cái rối rít của thầy trông rất hiền từ nên không làm chúng tôi sợ và như thế ngày nào trò nghịch dại đó cũng được lặp lại.

Thầy nói, có chúng tôi tới học thầy cảm thấy rất vui. Thầy say sưa nói với chúng tôi thứ ngoại ngữ mà một thời thầy say mê. Có chúng tôi, thầy bận rộn hơn vì phải lo ngăn những trò nghịch dại, lo cho chúng tôi học sao cho giỏi.Khi không còn học thầy nữa, tôi vẫn thường đạp xe qua nhà thầy, vẫn cái dáng cao gầy ấy, đặt những rớ tép dọc triền đập, bước đi liêu xiêu. Hai ba lần tôi đi qua, vẫn yên tâm khi cái dáng liêu xiêu ấy đi dọc bờ sóng ì ập vỗ. Rồi kí ức cũng như những con sóng, va đập kiểu gì mà tôi không còn nhớ từ lúc nào, tôi không còn thấy dáng người thầy ấy nữa. Hôm nay, như bao đứa học trò vô tâm khác của thầy, tôi lại ngồi kể về những kỉ niệm ngày xa xăm ấy. Tôi nhớ bóng thầy khi thả những con tép nhỉnh hơn vào trong cái bể xi măng và mong chúng lớn, khi đó trông thầy như cô Tấm đang nuôi con cá bống để chờ phép màu. Tôi luôn mong thầy đã đi khỏi căn nhà ấy, ngôi làng ấy, đi đến xứ sở của riêng thầy. Nơi có nhiều ước mơ hơn, biết đâu phép màu tôm, cá sẽ cho thầy gặp lại người con gái thầy đã yêu. Tôi luôn mong điều đó vì tôi biết gương mặt ấy, nụ cười ấy, dường như không thuộc về nơi này, không nên ở lại nơi này. ( Nguyễn Viết Xuân)

          Phần I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm) Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi:

ÁO TẾT

Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho: 

– Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi. 

Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó. 

Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp một tới lớp năm, làm sao mà không thân cho được. Hôm hai mươi sáu, học buổi cuối năm, hai đứa nôn Tết quá quá trời nên tính trước, nếu mùng một con bé Em đi về ngoại thì mùng Hai đứa đi tới nhà cô giáo. Bây giờ con bé Em tính trong đầu, tới bữa đó chắc nhiều bạn nữa, cho nên nó sẽ mặc cái áo đầm mới thắt nơ, bâu viền kim tuyến cho tụi bạn lé con mắt luôn. 

Con Bích đang ngồi nướng bắp thế cho má nó đi xách cặn cho heo. Bé Em muốn khoe liền nhưng bày đặt nói gièm: 

– Còn mấy ngày nữa Tết rồi hen, mầy có đồ mới chưa? 

– Có, má tao đưa vải cho cô Ba thợ cắt rồi, má tao nói gần Tết đồ nhiều, dồn đống, chắc tới hai mươi tám mới lấy được.

– Vậy mầy được mấy bộ? 

– Có một bộ hà. Con bé Em trợn mắt: 

– Ít quá vậy? 

– Con Út Mót với Con Út Hết được hai bộ. Tao lớn rồi, nhường cho tụi nó. 

– Vậy à? Bé Em mất hứng hẳn, nó lựng khựng nửa muốn khoe, nửa muốn không. Nhưng rõ ràng là con Bích không quên nó: 

– Còn mầy? 

– Bốn bộ. Má tao mua cho đủ mặc từ mùng Một tới mùng Bốn, bữa nào cũng mặc đồ mới hết trơn. Trong đó có bộ đầm hồng nổi lắm, hết sẩy luôn. 

– Mầy sướng rồi. 

Con Bích nói xong vẫn cười nhưng mắt nó xịu xuống, buồn hẳn. Nhà nó nghèo, sao bì được với nhà con bé Em. Hồi nhỏ nó chuyên mặc áo con trai của anh Hai nó để lại. Áo nó thì chuyền cho mấy đứa em, tới con Út Hết là đồ đã cũ mèm, mỏng tang, kéo nhẹ cũng rách. Được cái mấy chị em nó biết thân, lo học chớ không so đo chuyện cũ mới, má nó nói hoài, Nhà mình nghèo quá hà, ráng vài năm nữa, khá giả rồi má sắm cho. Con bé Em nhìn con Bích lom lom rồi cúi xuống, trở trở trái bắp nướng: 

– Bộ đồ mầy mai chắc đẹp lắm, bữa mùng Hai mầy mặc bộ đó đi nhà cô hen? 

Rồi tới mùng một, mùng hai, bé Em lại rủ con Bích đi chơi. Hai đứa mặc đồ hơi giống nhau, chỉ khác là con Bích mặc áo trắng bâu sen, con bé Em thì mặc áo thun có in hình mèo bự. Cô giáo tụi nó khen: 

– Coi hai đứa lớn hết trơn rồi, cao nhòng. 

Hai đứa cười. Lúc đó con bé Em nghĩ thầm, mình mà mặc bộ đầm hồng, thế nào cũng mất vui. Bạn bè phải vậy chớ. Đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được, vậy sao coi là bạn thân. Nhưng Bích lại nghĩ khác, bé Em thương bạn như vậy, tốt như vậy, có mặc áo gì Bích vẫn quý bé em. Thiệt đó. 

(Áo Tết, Nguyễn Ngọc Tư, in trong Bánh trái mùa xưa, Nxb Văn học)​

* Nguyễn Ngọc Tư là một trong những nhà văn nữ nổi tiếng nhất của Việt Nam đương đại. Bà sinh năm 1976 tại tỉnh Cà Mau, trong một gia đình nông dân nghèo. Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn giàu cảm xúc và có lối viết độc đáo. Bà sử dụng ngôn ngữ giản dị, mộc mạc nhưng vẫn giàu chất thơ, tạo nên những câu chuyện vừa chân thực vừa lãng mạn. Bà đã được trao tặng nhiều giải thưởng văn học uy tín, trong đó có giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, giải thưởng Văn học ASEAN, và giải thưởng Sách hay của Hội Xuất bản Việt Nam.

 

Câu 1: Tác phẩm “Áo tết” thuộc kiểu văn bản nào?

  1. Văn bản tự sự    B. Văn bản miêu tả      C. Văn bản biểu cảm        D. Văn bản thuyết minh

Câu 2: Đoạn trích trên được kể  chủ yếu từ điểm nhìn  của nhân vật nào?

  1. Nhân vật Bích         B. Nhân vật bé Em
  2. Nhân vật người kể chuyện D. Cả ba nhân vật trên

Câu 3: Cho biết từ in đậm trong câu sau: “Bây giờ con bé Em tính trong đầu, tới bữa đó chắc nhiều bạn nữa, cho nên nó sẽ mặc cái áo đầm mới thắt nơ, bâu viền kim tuyến cho tụi bạn lé con mắt luôn.” Thuộc thành thành phần biệt lập nào?

  1. Thành phần tình thái B. Thành phần cảm thán
  2. Thành phần chêm xen D. Thành phần gọi – đáp

Câu 4: Câu “Coi hai đứa lớn hết trơn rồi, cao nhòng” được dùng để

  1. Để hỏi B. Bộc lộ cảm xúc
  2. Để yêu cầu D. Để nhận định

Câu 5:  Việc bé Em quyết định không mặc bộ đầm hồng mà mặc bộ đồ hơi giống bạn của mình khi cùng bạn đi thăm cô giáo cho thấy bé Em là một cô bé như thế nào?

  1. Là một cô bé thích thể hiện                      B. Là một cô bé có tâm hồn tinh tế   
  2. Là một cô bé khiêm tốn D. Là một cô bé giàu lòng nhân ái

Câu 6: Sự kiện đáng chú ý nhất trong truyện ngắn trên?

  1. Bé Em và Bích được may đồ Tết
  2. Bích và bé Em mặc đồ mới đi chúc Tết   
  3. Bé Em có bốn bộ đồ Tết, trong khi Bích chỉ có một
  4. Bé Em cố ý mặc bộ đồ hơi giống Bích khi đi chúc Tết cô giáo

Câu 7: Phát biểu nào sau đây nói lên tóm tắt của truyện

  1. Kể về chuyện may đồ Tết của bé Em và Bích mà cách hành xử tế nhị của bé Em khi đi chúc Tết cô giáo.
  2. Kể về việc bé Em được may bốn bộ đồ Tết trong đó Bích chỉ may được một bộ.
  3. Kể về cuộc trò chuyện giữa bé Em và Bích về chuyện may đồ Tết.
  4. Kể về việc đã cố tình mặc đồ hơi giống Bích trong ngày chúc Tết cô giáo

Câu 8: Chủ đề của câu chuyện trên là:

  1. Yêu thương, gắn bó B. Yêu thương, chia sẻ
  2. Yêu thương, đồng cảm D. Nhân hậu, đồng cảm

Câu 9: Bài học mà em rút ra từ câu chuyện trên.

Câu 10: Từ truyện ngắn trên, em hãy viết từ 3 đến 5 câu nêu suy nghĩ của em về sự đồng cảm khi con người gặp khó khăn.

  1. VIẾT (4,0 điểm)

      Phân tích tác phẩm “ Áo tết” của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư.

________HẾT______

 

Xem nhiều nhất

Đề Ôn Thi Cuối Kì 1 Môn NGữ Văn Lớp 8
Đề Ôn Thi Cuối Kì 1 Môn NGữ Văn Lớp 8
Hệ Thống Đề Thi Giữa Học Kì 2 và Cuối Kì 2 Môn Ngữ Văn Lớp 8
Hệ Thống Đề Thi Giữa Học Kì 2 và Cuối Kì 2 Môn Ngữ Văn Lớp 8
6 MẸO GIÚP KHÔNG MẤT GỐC MÔN VĂN – CHINH PHỤC 7, 8 ĐIỂM!
6 MẸO GIÚP KHÔNG MẤT GỐC MÔN VĂN – CHINH PHỤC 7, 8 ĐIỂM!
Loi ích của gia sư toán 10 online
Loi ích của gia sư toán 10 online
TÔI LUÔN LO CON MÌNH THUA THIỆT CHỈ VÌ KHÔNG NÓI, KHÔNG VIẾT ĐƯỢC NHƯ CÁC BẠN
TÔI LUÔN LO CON MÌNH THUA THIỆT CHỈ VÌ KHÔNG NÓI, KHÔNG VIẾT ĐƯỢC NHƯ CÁC BẠN
Bí quyết giúp học sinh mất gốc môn Hóa học lấy lại kiến thức trong 6 tháng
Bí quyết giúp học sinh mất gốc môn Hóa học lấy lại kiến thức trong 6 tháng
Bí quyết giúp học sinh mất gốc môn Vật Lý lấy lại kiến thức trong 6 tháng
Bí quyết giúp học sinh mất gốc môn Vật Lý lấy lại kiến thức trong 6 tháng
Bí quyết giúp học sinh mất gốc môn Ngữ văn lấy lại kiến thức trong 6 tháng
Bí quyết giúp học sinh mất gốc môn Ngữ văn lấy lại kiến thức trong 6 tháng
Bí quyết giúp học sinh mất gốc môn Tiếng Anh lấy lại kiến thức trong 6 tháng
Bí quyết giúp học sinh mất gốc môn Tiếng Anh lấy lại kiến thức trong 6 tháng
Bí quyết giúp học sinh mất gốc môn Toán lấy lại kiến thức trong 6 tháng
Bí quyết giúp học sinh mất gốc môn Toán lấy lại kiến thức trong 6 tháng
Gia Sư Phường Sông Công Tại Thái Nguyên
Gia Sư Phường Sông Công Tại Thái Nguyên
Gia Sư Phường Bá Xuyên Tại Thái Nguyên
Gia Sư Phường Bá Xuyên Tại Thái Nguyên
Gia Sư Phường Bách Quang Tại Thái Nguyên
Gia Sư Phường Bách Quang Tại Thái Nguyên
Gia Sư Phường Đức Xuân Tại Thái Nguyên
Gia Sư Phường Đức Xuân Tại Thái Nguyên
Gia Sư Phường Bắc Kạn Tại Thái Nguyên
Gia Sư Phường Bắc Kạn Tại Thái Nguyên
Gia Sư Phường Quán Triều Tại Thái Nguyên
Gia Sư Phường Quán Triều Tại Thái Nguyên
Gia Sư Phường Túc Duyên Tại Thái Nguyên
Gia Sư Phường Túc Duyên Tại Thái Nguyên
Gia Sư Phường Quang Vinh Tại Thái Nguyên
Gia Sư Phường Quang Vinh Tại Thái Nguyên
Gia Sư Phường Hoàng Văn Thụ Tại Thái Nguyên
Gia Sư Phường Hoàng Văn Thụ Tại Thái Nguyên
Gia Sư Phường Trưng Vương Tại Thái Nguyên
Gia Sư Phường Trưng Vương Tại Thái Nguyên

TRUNG TÂM GIA SƯ QUỐC KHÁNH

LIÊN HỆ VĂN PHÒNG

– Địa chỉ: Phường Đông Vệ TP Thanh Hoá

– Trang Page : Trung Tâm Gia Sư Quốc Khánh

_ YouTube: Trung Tâm Gia Sư Quốc Khánh

– Số điện thoại: 0868.710.722

– Zalo : Số 0868.710.722

Thời gian làm việc

Tát cả các ngày trong tuần, kể cả ngày lễ 24/24

Map

Theo dõi chúng tôi

Youtube

Facebook

Zalo

Tiktok

Copyright © 2023 .

Loading...
  • chat-active-icon
  • chat-active-icon
  • icons8-exercise-96
  • icons8-exercise-96
  • icons8-exercise-96